Trang chủ Giới thiệu Giao nhận Video clips Bài viết Liên hệ
This text will be replaced

Thông báo

Suiseki: Một viên đá có ý nghĩa để thưởng ngoạn.

#1 19-08-09

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4333
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Cát Kết

http://www.muabanda.com/forum/uploads/thumbs/63_dsc01691.jpg

Cát kết là đá trầm tích vụn hạt vừa, kích thước các mảnh vụn từ 0,1- 1mm (hay 0,05-2mm). Thành phần vụn chủ yếu là sản phẩm phong hóa cơ học, ít nhiều đã trải qua phân dị trầm tích và chịu những biến đổi trong quá trình thành tạo.
Cát kết là một loại đá trầm tích cơ học khá phổ biến trong địa tầng có tuổi và điều kiện thành tạo khác nhau, chiếm trên 60% tổng số các loại đá trầm tích cơ học.
Thành phần, kiến trúc, cấu tạo. Thành phần của cát kết gồm hai phần: hạt vụn và xi măng, hạt vụn là sản phẩm của quá trình phong hóa cơ học, ít nhiều đã bị tác dụng mài tròn, chọn lọc, phá hủy trong quá trình vận chuyển và lắng đọng. Vì thế thành phần khoáng vật của hạt vụn phần lớn là những khoáng vật vững bền trong đới phong hóa như thạch anh, fenpat, mica các mảnh đá silit, quaczit…và một ít khoáng vật nặng: ziacon, tuamalin, apatit, inmenit, rutin…
Thành phần xi măng trong cát kết chủ yếu là sét, cacbonat (canxit, dolomit), silit ( opan, caxedon, thạch anh), hydroxit sắt, photphorit, glauconit, serixit. Ngoài ra xi măng còn gặp thạch cao, anhydrit, bitum.
Thành phần hóa học của cát kết phức tạp phụ thuộc vào sự thay đổi thành phần vụn và xi măng. So với đá macma lượng SiO2 cao hơn nhưng Al2O3 thấp hơn. Trong các loại cát kết chứa glauconit hoặc giàu fenpat thì hàm lượng Al2O3, Fe2O3, Na2O, K2O tương đối lớn hơn so với các loại khác. Cát kết có thành phần khoáng vật giống đá macma như acko và grauvac thì thành phần hóa học gần giống với macma.
Kiến trúc của cát kết điển hình là kiến trúc cát ( psamit), ngoài ra còn các kiểu kiến trúc trung gian: cát –bột, cát – cuội, cát-sét. Trong các loại đá đã bị biến đổi mạnh còn gặp kiến trúc cát biến dư, biến tinh, tái sinh….
Cấu tạo của cát kết rất đa dạng. Tùy theo điều kiện thành tạo thường gặp cấu tạo khối, phân lớp song song, phân lớp xiên,.. Trên mặt lớp cát nhiều khi còn để lại những dấu vết gợn sóng, vết hằn.
Phân loại. Có nhiều cách phân loại, song hiện nay phần lớn các nhà nghiên cứu đều lấy thành phần khoáng vật làm cơ sở chính để phân loại tỷ mỷ các đá cát kết và bột kết. Cách phân loại theo độ hạt của L.B. Rukhin chia ra bốn nhóm: cát kết hạt thô ( 1- 2mm), hạt lớn (0,5- 1mm), hạt vừa (0,25-0,5 mm), hạt nhỏ (0,1-0,25mm)
Ở Mỹ phổ biến cách phân loại của Petizo7n (1949), chia trầm tích cát ra năm nhóm: quaczit, quaczit –fenpat, acko, á grauvac, grauvac.
Ở Liên xô (cũ) phổ biến cách phân loại của Svetxov (1948) chia trầm tích cát ra thành ba nhóm: 1/ cát kết đơn khoáng, 2/ cát kết ít khoáng, 3/ cát kết đa khoáng.
Tuyệt đại đa số các phân loại đều đưa ra 3 loại cát kết chính là cát kết thạch anh, cát kết acko và cát kết grauvac, ngoài ra có các loại trung gian.
Cát kết thạch anh. Cát kết thạch anh là loại cát kết đơn khoáng, trong đó thạch anh chiếm trên 90% thành phần hạt vụn. Ngoài ra còn gặp các khoáng vật vững bền khác như ziacon, tuamalin, apatit, các mảnh đá silit, quaczit, mutcovit, fenpat,…Hạt vụn thường có độ chọn lọc cao, độ mài tròn tốt, kích thước tương đối đồng đều và thường là loại hạt vừa, hạt nhỏ.
Cát kết thạch anh thường màu trắng ,xám, phớt hồng, phớt lục, vàng,..tùy theo thành phần xi măng hay hỗn hợp khoáng vật phân tán: nếu chứa đồng hay glauconit, clorit đá có màu lục; nếu chứa oxit sắt đá sẽ có màu vàng, nâu; đá giàu vật chất than có màu xám đen; nếu xi măng là kaolinit đá có màu trắng. Thành phần xi măng là opan, caxedon, thạch anh- vi hạt ,sét, vôi, hydroxit sắt, đôi khi là sét giàu vật liệu hữu cơ, bitum.
Kiểu xi măng gồm xi măng cơ sở lấp đầy, tái sinh, tiếp xúc; cấu tạo phân lớp.
Thành phần hóa học đặc trưng là SiO2 cao đến 99,6%.
Cát kết thạch anh là sản phẩm tái trầm tích của các tầng cát kết cổ hoặc đã được vận chuyển đi trên một quãng xa nơi đá gốc. Cát kết thạch anh đặc trưng cho trầm tích ven biển, ven hồ, tam giác châu. Vi thành phần hạt vụn khá đồng nhất, nên việc phân chia và gọi tên đá chủ yếu dựa vào thành phần và tính chất xi măng và mức độ biến đổi của đá. Ví dụ cát kết thạch anh xi măng photphorit, cát kết thạch anh xi măng vôi.
Khi cát kết thạch anh có xi măng là silit thì thì tùy theo mức độ biến đổi của đá có thể chia làm ba loại: cát kết thạch anh, cát kết dạng quaczit và quaczit trầm tích.
Cát kết thạch anh xi măng silit, là loại đá chưa bị biến đổi, thành phần của xi măng là opan hoặc canxedon, kiểu xi măng thường là kiểu cơ sở, lấp đầy.
Cát kết dạng quaczit là loại đã bị biến đổi mạnh mẽ, opan, caxedon đã kết tinh thành thạch anh. Đá rất rắn chắc, độ hổng của đá giảm đi chỉ còn 1-2%. Dưới kính hiển vi thấy rõ xi măng và hạt vụn hầu như đồng nhất về mặt quang học, đôi khi còn tàn dư dấu vết hình dạng hạt vụn ban đầu (H.3). Ranh giới tiếp xúc giữa các các hạt theo đường thẳng ( men rạn ) hoặc răng cưa. Kiến trúc của đá điển hình là kiến trúc biến tinh tái sinh đặc trưng cho giai đoạn hậu sinh (katagenese).
Khi toàn bộ xi măng silit thành thạch anh tái sinh, không còn xi măng nữa, dấu vết hình dạng hạt vụn ban đầu đã bị xóa nhòa, các hạt kết hợp với nhau chặt chẽ, hình dạng hạt méo mó biểu hiện hình dạng kiến trúc biến tinh tạo thành quaczit trầm tích, đặc trưng cho giai đọan biến sinh (metagenese).
Cát kết có thể được tạo thành do lắng đọng vật liệu sau quá trình phong hóa, cũng có thể tái trầm tích lại sản phẩm phá hủy của chính cát kết thạch anh nói trên.
Cát kết acko. Là loại đá có thành phần khoáng vật của hạt vụn chủ yếu là thạch anh (66 – 75%), feralit (trên 25%) phần lớn là loại plagiocla axit và fenpat kali (microlin, octocla), và các mảnh đá silit, quaczit granitoit. Ngoài ra còn gặp các khoáng vật phụ: rutin, mica, tuamalin, apatit, ziacon, glauconit (nhỏ hơn 25%).
Xi măng của đá thường ít và là sản phẩm phá hủy của hạt vụn như serixit, kaolinit, hydroxit sắt, cacbonat, silit, … Kiểu xi măng thường thất là kiểu ép nén tái sinh của thạch anh và fenpat, lấp đầy, … Do đó mày sắc của đá thường xám trắng, phớt hồng, đá tắn chắc có cấu tạo khối hoặc phân lớp song song. Trong cát kết acko Al2O3 thấp hơn các loại cát kết, còn (Na2O, +K2O) lại cao hơn. Cát kết dạng acko phổ biến rộng rãi gần các khối graniotit bị phá hủy. (H.7)
Cát kết grauvac. Cát kết grauvac là một loại đá đa khoáng, thành phần hạt vụn gồm thạch anh (60 – 75%), fenpat (20 – 30%), rất giàu khoáng vật màu (pyroxen, amfibon, biotit) và mảnh vụn các đá macma, biến chất, tuf, trầm tích.
Cũng như cát kết dạng acko, thành phần xi măng của cát kết grauvac cũng ít và thường là sản phẩm phá hủy của hạt vụn như clorit, cacbonat, serixit, khoáng vật sét… Kích thước hạt không đồng đều độ chọn lọc, mài tròn kém. Dạng bên ngoài cát kết dạng grauvac có màu xám đen, phớt lục, cấu tạo khối, rắn chắc.
Nguồn gốc của đá là sản phẩm phá hủy của các khối đá macma bazo, trầm tích và nằm trong các thành tạo miền địa máng hay chuyển tiếp hay thường gặp trong thành hệ molat.
Một số dạng chuyển tiếp. Ngoài ba dạng cát kết đã mô tả ở trên còn có các dạng trung gian chuyển tiếp gồm cát kết litic giống như cát kết acko, nhưng lượng thạch anh ít hơn 75% thì gọi là cát kết dạng grauvac. Cát kết dạng acko là loại trung gian chuyển tiếp sang grauvac hoặc cát kết thạch anh với lượng fenpat thấp hơn (10 – 20%) và thạch anh nhiều hơn (> 60%).
Nguồn gốc và điều kiện thành tạo. Cát kết là một loại trầm tích cơ học rất phổ biến có thể tạo thành trong nhiều điều kiện khác nhau như ở biển, ở lục địa, thường đóng vai trò chính trong các thành hệ flisơ, molat, chứa than, cát thạch anh, đá chứa dầu, khí đốt. Chúng có những đặc điểm khác nhau.
Cát kết ở biển. Cát ở biển thường phân bố ở bãi biển, ven biển, diện tích phân bố rộng chiều dày lớn và ổn định. Đặc trưng của cát kết ở ven bờ là có độ mài tròn tốt, sắp xếp chặt sít, thành phần đơn khoáng, kích thước hạt đồng đều, phân lớp phức tạp: xiên chéo, sóng xiên… trên mặt lớp thường có dấu vết gợn sóng. Khác với cát kết ven bờ, cát kết đáy có độ hạt nhỏ hơn, lẫn bột, sét. Độ mài tròn và chọn lọc thấp, cấu tạo phân lớp và mặt lớp. Trầm tích cát biển thường chứa nhiều di tích sinh vật với mức độ bảo tồn khác nhau tùy theo chế độ động lực học của biển. Cát kết ven bờ thường phân bố thành đới và cộng sinh với cuội kết ven bờ.
Trong cát kết biển thường gặp xi măng silit, hydroxit sắt, cacbonat, photphorit, glauconit, cát kết đáy thường tạo thành tầng có bề dày ổn định và phân bố rộng.
Cát kết ở sông. Cát kết sông thường nằm trong trầm tích bãi bồi và phổ biến ở vùng hạ lưu. Đặc trưng cát ở sông là có độ chọn lọc và độ mài tròn kém, kích thước hạt không đồng đều, lẫn cả vật liệu bột, sét, sỏi, độ chặt xít kém, phân lớp xiên chéo, sóng xiên đơn giản. Thành phần cát ở sông thường đa khoáng, chứa nhiều di tích sinh vật nước ngọt, động vật trên cạn, tàn tích thực vật (thân, cành cây) hoá than. Thành phần xi măng trong cát kết ở sông thường là sét, hydroxit sắt…
Trầm tích cát ở sông thường phân bố thành dải hẹp, kéo dài, độ ổn định kém, hoặc dạng thấu kính.
Cát kết ở hồ. Trầm tích cát ở hồ thường phân bố ở vùng ven hồ, diện tích hẹp, chiều dày nhỏ. Thành phần của cát đơn khoáng, độ chọn lọc độ mài mòn tương đối tốt. Cấu tạo cát ở hồ thường là phân lớp xiên chéo, sóng xiên, giống như phân lớp ở ven biển nhưng chiều dày của mỗi lớp hoặc các lớp nhỏ hơn. Thành phần xi măng trong cát kết ở hồ là sét, hydroxit sắt, silit, cacbonat. Di tích hữu cơ trong cát hồ là sinh vật nước ngọt, thực vật, bảo tồn tốt.
Cát kết do gió. Trầm tích cát ở sa mạc thành tạo trong không khí và gió nên đặc trưng của cát là có độ chọn lọc tốt, thành phần đơn khoáng thường hạt nhỏ không lẫn cuội hay bột, trên mặt hạt cát có vết khía nhỏ, phổ biến phân lớp sóng xiên kiểu do gió và hầu như không có di tích hữu cơ.

Cát kết sườn tích (deluvi) có đặc điểm là độ chọn lọc kém thường lẫn cuội, sét và những sản phẩm phong hóa khác, hạt góc cạnh. Thành phần mảnh vụn giống đá gốc và là sản phẩm phá hủy của đá gốc.

Ngoại tuyến

 

#2 3-11-09

Capheda
Member
Bài viết: 3354
Gia nhập: 22-08-09
Đến từ: Khánh Hòa
Email: trantanhung.nt@gmail.com
Địa chỉ: 21 a Bạch Đằng_Nha Trang
Điện thoại: 0905.196.650

Re: Cát Kết

Chào bạn GEO ,
Rất cám ơn những phần bài viết vừa mới tham gia của bạn ...Đối với mình ,nó rất xác thật và bổ ích . Riêng về thuật ngữ PHONG HOÁ CƠ HỌC thì mình cũng ít khi gặp,mình chỉ thường gặp cách viết như vầy :...phong hoá do những hiện tượng vật lý và cơ học ...(nghĩa là theo mình hiểu ...ở đây muốn nói tới ...tính vận chuyển của các sản vật phong hoá ) .Mình hiểu chỉ bấy nhiêu ,nói ra chỉ mong được học tập mở mang thêm mà thôi ...Cám ơn bạn GEO nhé.


Trần Tấn Hưng
21 a Bạch Đằng - Nha Trang

0905.196.650

Ngoại tuyến

 

#3 4-11-09

admin Ninh Huu Hiep
Administrator
Bài viết: 913
Gia nhập: 7-05-09
Email: hiep@tamhiep.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P. NCT, Q.1, Tp. HCM
Điện thoại: 38374729

Re: Cát Kết

Admin cám ơn bạn Geo quá khen và đã góp phần, Admin chỉ là người đam mê đá, khoáng vật nên tìm tòi chút chút thôi, Admin chỉ là người tập hợp các tài liệu rồi đánh máy đưa lên cho anh em đọc mong có chút gì đó giúp những anh em không có thời gian thu thập. Và chắc chắn là không thể tránh khỏi những sai sót ngay cả lỗi chính tả, chưa muốn nói là kiến thức. Có gì mong các bạn thành tâm góp ý nhé.

Geo biết không, bài trên được mình trích dẫn trong sách Thạch Học của Cô La Thị Chích  trang 317, phần Cát Kết. Theo như mình hiểu ý của cô rằng phong hóa có học là quá trình phá hủy cơ học , tức là những viên đá va chạm, gãy vỡ vụn ra...
đó bạn. Mình chỉ hiểu được đến đó thôi, nếu muốn giải thích thêm bữa nào rảnh mình phải qua thọ giáo cô Chích quá. hihi

Ngoại tuyến

 

#4 9-11-09

admin Ninh Huu Hiep
Administrator
Bài viết: 913
Gia nhập: 7-05-09
Email: hiep@tamhiep.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P. NCT, Q.1, Tp. HCM
Điện thoại: 38374729

Re: Cát Kết

geotechnical viết:

Admin và Cà phê_Đá khách sáo quá. Geo cũng vì ham học hỏi mà tham gia thôi mà. Vì thấy những bài viết của Admin và các thành viên tâm đắc quá. Nhưng theo Geo nghĩ, Admin viết ngắn gọn hơn để anh em có thời gian đọc, chứ Geo thấy hơi dài. hehe. Nếu có thời gian Geo cũng sẽ viết vài bài về khoáng vật Thạch anh (Quartz) để góp phần cho diễn đàn ngày một đông hơn và hữu ích hơn.

Thế thì hay quá!
Diễn đàn rất cần bạn giúp một tay nhé! Thân chào

Ngoại tuyến

 

#5 30-11-09

admin Ninh Huu Hiep
Administrator
Bài viết: 913
Gia nhập: 7-05-09
Email: hiep@tamhiep.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P. NCT, Q.1, Tp. HCM
Điện thoại: 38374729

Re: Cát Kết

Xin cám ơn Wasabi đã nhắc nhở, Xin đính chính, đúng vậy Deluvi là sườn tích: sự lắng động vật liệu vụn, chọn lọc kém trên sườn núi, đồi dưới tác dụng của dòng chảy không thường xuyên và chưa hết tác dụng của trọng lực. Các bạn thông cảm, vì đôi khi bận quá tôi không xem cẩn thận hết cả bài, các bài viết được chép lại trong các sách giáo khoa thường do nhân viên đánh máy, và được rà soát lại bởi kỹ thuật viên (thường là việc rà soát xem có đúng các từ ngữ trong sách giáo khoa hay không) nhưng có cố gắng cũng vẫn có sơ xuất. Nhờ các thành viên để ý thêm, thông báo ngay để chúng tôi đính chính. Riêng bản thân mình nghĩ và cũng rất thông cảm với thầy cô của thế hệ trước, cho dù có cố gắng đến đâu cũng không tránh khỏi sơ suất, cũng có thể do in nhầm, chứ cô vẫn dùng Deluvi là sườn tích.
Cám ơn các bạn.

Ngoại tuyến

 

Board footer

Powered by PunBB
© Copyright 2002–2008 PunBB