Trang chủ Giới thiệu Giao nhận Video clips Bài viết Liên hệ
This text will be replaced

Thông báo

Suiseki: Một viên đá có ý nghĩa để thưởng ngoạn.

#1 24-02-12

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4333
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

CÁCH LÀM THƠ (4)

Phần I


Những Dạng Thơ Ðặc Biệt


1-Họa Vận

Một người làm một bài xướng lên,một người nữa làm bài khác họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng,còn ý nghĩa hoặc phụ theo cho rộng,hoặc trái hẳn lại ( phản đề ) :

Hỏi Ả Bán Chiếu

Xướng :
Ả ở đâu nay bán chiếu gon ?
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn ?
Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi ?
Ðã có chồng chưa được mấy con ?
Nguyễn Trãi

Họa :

Tôi ở Tây hồ bán chiế u gon .
Nỗi chi ông hỏi hết hay còn ?
Xuân thu tuổi mới trăng còn lẻ ,
Chồng còn chưa có,có chi con !

Nguyễn thị Lộ

2-Thủ nhất thanh ( nhất đồng )

Từ đứng đầu 8 câu đều giống nhau

Tám Mừng
Mừng đón xuân về,muôn sắc hoa,
Mừng xuân,xuân mới ,mới thêm ra.
Mừng nghe nhựa sống,như còn trẻ,
Mừng thấy đời tươi,chửa muốn già.
Mừng khỏe đôi chân,đi đứng vững,
Mừng tinh cặp mắt ngắm nhìn xa.
Mừng nhau tuổi Thọ tăng tăng mãi,
Mừng được trường xuân hưởng thái hòa.

1986 Lạc Nam

3-Song điệp

Tất cả 8 câu đều có 2 điệp từ :

Chuyện Ðời
Vất vất vơ vơ ,cũng nực cười,
Căm căm cúi cúi có hơn ai .
Nay còn chị chị anh anh đó ,
Mai đã ông ông mụ mụ rồi.
Có có không không,lo hết kiếp
Khôn khôn dại dại,chết xong đời.
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy,
Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi.

Nguyễn Công Trứ ?
Nguyễn Thượng Hiền ?

4-Song điệp độc vận

Tất cả 8 câu đều có 1 từ và chỉ có 1 vần

Xuân Và Thơ

Xuân tự ngàn xưa, bạn với Thơ
Tình Xuân là cả vạn lời Thơ
Ðẹp duyên hoa bút, Xuân ngời sắc
Rộn khúc Xuân thiều, nhạc ánh Thơ.
Xuân vắng,oanh hờn,dầu dáng liễu
Xuân về hương tỏa ngát lời Thơ
Xuân nương,thi sĩ,đôi người ngọc,
Dệt mộng ngày Xuân,lộng ý Thơ

Lạc Nam


5-Dĩ đề vi thủ


Lấy 8 từ đầu để mở đầu cho 8 câu thơ


Gửi Bạn

Nhất sinh tôi bác biết nhau rồi,
Ðịnh đoạt hơn thua phó mặc trời .
Chúng mải công danh , ky cóp chạy,
Ta nhìn mây nước nhẹ nhàng trôi.
Theo quan,ngán bấy câu chè lá !
Về xã ,buồn thay cảnh thịt xôi.
Lê gậy theo trăng vào quán trọ,
Ninh trà,nạp thuốc ,chuốc nhau chơi.

Quả Ngôn

Chú thích
Lê Ninh (. - 1886) hiệu là Mệnh Khang người Hà Tĩnh .Hợp
với quân Phan đình Phùng ở Hương Sỏn chống lại Pháp.


6-Dĩ đề vi vận

Lấy đầu đề làm vần

Không Chồng Trông Bông Lông

Xướng :

Bực gì bằng gái chực phòng không
Tơ tưởng vì chưng một tấm chồng,
Trên gác rồng mây ngao ngán nhẽ,
Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông.
Mua vui lắm lúc cười cười gượng,
Giả dại nhiều khi nói nói bông.
Mới biết có chồng như có cánh,
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông.

Nguyễn Khuyến

Họa Vận :

Phật rằng sắc sắc không không ,
Sắc sắc không không khó chất chồng.
Ân oán,nhiều người còn có ngóng,
Trải oan,lắm kẻ vẫn chờ trông.
Thế gian,nhân quả nhanh như bóng,
Cõi Phật,nhân duyên nhẹ tựa bông.
Xuân đến hoa xuân tươi đẹp mãi,
Luân hồi ra khỏi,hết bông lông.

Cổ Lai Hy
Quán Thơ Xóm Sâu Bò


7-Toán thi

Cả bài câu nào cũng có từ chỉ con số


Bói Số

Ruột rối bòng bong, một lá thuyền
Ngổn ngang trăm mối vẫn y nguyên
Người đi nghìn dặm còn thêm nhớ
Kẻ ở muôn năm vẫn lẻ duyên
Mớ hoảng, có kêu thời cũng hão
Ức thầm, dẫu khóc chỉ thêm huyền
Vạn người , ai kẻ chung tâm sự
Hãy triệu giùm tôi chú đỗ quyên

Bùi Tiến


8-Liên hoàn

Thể thơ có nhiều đoạn ,câu cuối của đoạn trên được chuyển thành câu đầu của đoạn dưới


Thi Lấy Ðược

Anh Phán nhà ta biết cóc gì
Kỳ thi Tham biện cũng ra thi,
Nhất thì anh đỗ,nhì anh trượt,
Chẳng đậu khoa này,khoa khác đi.
Chẳng đậu khoa này,khoa khác đi.
Nam nhi chi chí,há lo gì,
Một,hai,ba,bốn,năm năm trượt
Nhẵn mặt quan trường,chẳng thẹn chi.

Nhẵn mặt quan trường,chẳng thẹn chi.
Trượt thi,thi trượt,vẫn gan lì.
. . . .
Tú Mỡ


Lính Tập Vinh Qui

Chú đội qua Tây thắng trận về,
Cả nhà đón rước thật mừng ghê !
Ông già,bà lão gồm hai cụ,
Vợ giảnh,con ngoan đủ mọi bề,(1)
Nảy ngực mề đay tiền bạc chói,
Rạng mình khố đỏ áo vàng xuê.
Giang sơn mày mặt càng tươi tốt,
Bộ cất tay lên,ngó cũng nghề .(2)

Bộ cất tay lên ngó cũng nghề,
Miệng cười tróm trém,húi râu dê.(3)
Xông pha trăm trận từng hăm hở
Gánh vác hai vai ghẹo nặng nề !(4)
Mở mặt Tiên Rồng dòng Ðại Việt,
Nổi danh hùng hổ cõi Âu tê(5)
Trong tình cảnh nọ dầu không vẻ,
Văng vẳng dường nghe tiếng ắc-đê !(6)

N.V.H


Chú thích
1-Vợ đẹp ( tiếng Nghệ)
2-Có vẻ tay nghề
3-Bộ râu xén như râu dê
4-Dù công việc có nặng đến đâu cũng không sợ (tiếng Nghệ)
5-Âu Tây.chữ tây,âm Hán có khi đọc là tê
6-Phiên âm chữ Pháp :un,deux.Tiếng hô đi đều của lính tập.


9-Liên hoàn thuận nghịch vận

Thể thơ như trên ,nhưng bài thứ 2 viết ngược vần lại với bài thứ nhất


Xem Núi Non Bộ

Non nhân,nước trí,điểu muông hiền,
Núi giả mà in dáng tự nhiên.
Một vũng xinh xinh ,vươn một ngọn,
Hai cầu nho nhỏ,vắt hai triền.
Thuyền ngư lướt suối dong miền tục,
Cánh hạc trườn mây bổng cõi tiên.
Ðối cảnh tâm tư dường nhẹ nhõm,
Lâng lâng chẳng bợn chút ưu phiền.

Lâng lâng chẳng bợn chút ưu phiền.
Bàn đá say cờ đôi lão tiên,
Lã vọng buông câu vờn sóng nước,
Phật đài mở lối lượn ven triền.
Sỏn thanh thủy tú,hồn u nhã,
Sắc lộng hương nùng ,khí hạo nhiên.
Phong cảnh tạo hình như giới thiệu
Chủ nhân đây cũng bậc nhân hiền.

Lạc Nam

10-Ô thước kiều

Thể thơ liên hoàn như trên,nhưng lấy 2 từ cuối,hoặc nhắc lại 2,3 từ nào đó ở câu cuối của bài trên để mở đầu cho câu 1 của bài dưới

Chống Tôn Thọ Tường

Lung lay lòng sắt đã mang nhơ,
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ.
Người trí mang lo danh chẳng chói,
Ðứa ngu luống sợ tuổi không chờ.
Bài hòa đã sẵn in tay thợ,
Cuộc đánh hơn thua giống nước cờ.
Chưa trả thù nhà,đền nợ nước,
Dám đâu mắt lấp với tai ngơ

Tai ngơ sao đặng lúc tan tành,
Luống biết trách người,chẳng trách mình.
Ðến thế còn khoe đàng đạo nghĩa,
Như vầy cũng gọi kẻ trâm anh.
Biển khơi vụng tính dung thuyền nhỏ,
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành.
Thân có,ắt danh tua phải có,
Khuyên người ái trọng cái thân danh.

Thân danh chẳng kể,thật thằng hoang,
Ðốt sáp nên tro lụy chẳng màng.
Hai cửa trâm anh xô sấp ngửa,
Một nhà danh giá xóa tan hoang.
Con buôn khấp khởi chưa từng ngọc,
Người khó xăng xăng mới gặp vàng.
Thương kẻ đòng văn nên phải nhắc.
Dễ đâu ta dám tiếng khoe khoang.

Phan Văn Trị ( 1830-1910)


11-Tập danh


a-Trong mỗi câu có danh từ gắn với đề tài


Mừng Ông Lão Hàng Thịt Ăn Thượng Thọ.

Nay tiết mừng ông mới Bảy mươi,
Cổ hy(1) chưa dễ mấy lăm người.
Răng long nhưng hãy còn tinh mắt
Ðầu bạc nhưng mà chửa tắc tai.
Bè bạn bày vai kèo (2)chén Lý(3)
Cháu con dưới gối múa sân Lai.(4)
Xưa nay vẫn giữ lòng chân thực
chữ đức giả xương máu để đời.

Nguyễn Khuyến


Chú thích
1-Do câu " nhân sinh thất thập cổ lai hy " ,ngưòi ta sinh ra sống được 70 tuổi,xưa nay rất hiếm có
2-Rót rượu mời người khác uống
3-Chén rượu của Lý Bạch ,nhà thơ uống rượu nổi tiếng
4-Lão Lai,người nước Sở đời Xuân Thu,tuổi đã ngoài 70 còn
cha mẹ, giả cách khóc như trẻ con để làm cho cha mẹ vui

b-Mỗi câu thơ có 1 từ chỉ bộ phận trong thân thể con người

Học Trò

Dài lưng tốn vải lại ăn no,
Nghĩ ngán cho thân phận học trò.
Thù nước,thù vua, ngay mặt chịu,
Công sưu,công ích,cắm đầu lo !
Vẫn giương mắt ếch mà ra quáng,
Còn ngậm lông mèo chả sợ ho !
Nói đến chuyện đời tai điếc đặc,
Rung đùi,chỉ nghĩ " tám đùi " to !
Nhì Mỹ


Chú thích
Ngậm lông mèo : ngậm bút chữ nho
Tám đùi :văn xưa gọi là " bát cổ "dịch là tám vế,vế đồng nghĩa với đùi.


12-Tính danh


Câu nào cũng có từ chỉ nhân danh hay địa danh Giống như Ðiển Thi,câu nào cũng dẫn 1 điển ở bên Tàu.Xưa kia các cụ đồ nho chuộng lắm vì như thế các cụ mới chịu cho là có học,rộng kiến thức.


Lỗi Thề
Vùi oan bạc mệnh sóng Tiền Ðường (1)
Ngọn đuốc Chiêm Thành(2) rở nhớ thương.
Chắp cánh đẹp gì câu Thất Tịch (3)
Ôm cầm say mãi gái Tầm Dương(4)
Lỗi thề Chung Tử (5) sầu tri kỷ
Hoen mái Tây hiên (6) lệ đoạn trường
Hồ Hán (7) ngậm ngùi mây cách biệt
Ngân Hà ( mưa gió nẻo cầu sương.

Toại Khang


Chú thích
1: Kiều trầm mình ở sông Tiền Ðường
2- Công chúa Huyền Trân phải sang lấy vua Chiêm Thành
3- Ðường Minh Hoàng -Dương Quý Phi đêm 7 tháng 7 âm lịch thề cùng nhau "sống làm vợ chồng chết là chim liền cánh cây liền cành "
4-Bạch Cư Dị,văn hào đời Ðường,đêm đậu thuyền ở sông Tầm
làm bài Tỳ Bà Hành cho ca nữ hát
5-Chung Tử Kỳ -Bá Nha là 2 bạn tri âm.Bá Nha gảy đàn,Tử Kỳ biết Bá Nha nghĩ gì.Tử Kỳ chết,Bá Nha đập đàn đi,không gảy nữa.
6-Trương Quân Thụy-Thôi Oanh Oanh tình tự dưới mái Tây hiên
7-Chiêu Quân nhà Ha&N sang cống Hồ
8-Ngưu Lang-Chức nữ đùng 2 bên sông Ngân Hà nhớ nhau khóc
thành mưa ngâu trong thábg 7 Âm lịch

13-Sắc thái

Câu nào cũng có từ chỉ màu sắc

Chiều Nổi Mầu Thu

Trời thu bóng ác rực mầu vang,
Trườn trượt vào lưng dặng núi vàng.
Cánh nhạn chiều tà sương lót trắng
Chòm mây mưa nhạt khói mờ lam.
Lầu thu thoát nắng nâng rèm tía,
Vườn vắng còn đây nở đóa vàng.
Nếu chẳng vương tìm hoa súng tím,
Thì đâu được ngắm nguyệt da cam

Toại Khang

14-Thủ vĩ ngâm


Thể thơ trong đó câu đầu và câu cuối giống nhau

Khoe Lười

Anh em chớ bảo ta lười,
Làm việc cho hay phải thức thời.
Xuân hãy còn chơi cho phỉ chí,
Hạ mà cất nhắc tất nhoài hơi.
Thu sang cảm nguyệt còn ngâm vịnh,
Ðông lại hầm chăn tạm nghỉ ngơi.
Chờ đến xuân sang ta sẽ liệu,
Anh em chớ bảo ta lười .

Tú Mỡ

Ðèn Kéo Quân

Lúng túng trong vòng mấy đứa đen,
Nhờ khi đỏ lửa mới hay hèn.
Nghênh ngang võng giá phô đồ giấy,
Ðủng đỉnh dù che nép bóng đèn.
Thằng trước thằng sau liền gót chạy,
Anh trên anh dưới vểnh râu lên.
Này ai say tỉnh nhìn xem thử,
Lúng túng trong vòng mấy đứa đen .

Khuyết Danh

15-Triệt hạ

Từ cuối của mỗi câu thơ để bỏ lửng làm cho câu thơ chưa trọn nghĩa,khiến người đọc phải nghĩ ra

Gái Hồng Nhan

Thấy gái hồng nha bỗng chốc mà . . .
Hõi thăm cô ấy chửa hay đà . . .
Hình dung yểu điệu in như thể . . .
Diện mạo phương phi ngó tưởng là . . .
Ăn mặc ra tuồng người ở chốn . . .
Nói năng phải lẽ giống con nhà . . .
Ước gì ta được mà ta để . . .
Ta để đem về để nữa ta . . .

Nguyễn Quý Tân

16-Yết hậu

Các câu trên đủ từ cả,riêng câu cuối cùng chỉ có 1 từ

Rượu Say Nhè

Sống ở nhân gian,đánh chén cay,
Trăm năm ngày thác ,gi" be đầy.
Diêm vương phán hỏi " Ai đó " ?
Say ! "

Sống ở nhân gian đánh chén khè ,
Trăm năm ngày thác,gi" đầy be.
Diêm vương phán hỏi " Ai đó " ?
Nhè ! "

Phạm Thái biệt hiệu Chiêu Ly

17-Áp cú

Từ cuối của câu trước trở thành từ đầu của câu sau

Sang Canh

Năm nảo năm nao cũng ước lành
Lành,còn mong hết ? đón sang canh
Canh trời thắc thỏm phương xin lộc
Lộc nước lăm le khách vít cành.
Cành lá đêm qua dù thiếu nụ
Nụ đào xuân hé đẹp hơn tranh,
Tranh đời mới lại màu hoa gấm
Gấm vóc sơn hà lộng sắc xanh.

Toại Khang

Chừa Rượu

Những lúc say sưa, cũng muốn chừa,
Muốn chừa, nhưng tỉnh lại hay ưa,
Hay ưa nên nỗi không chừa được,
Chừa được, nhưng mà cũng chẳng chừa.

Nguyễn Khuyến

(Sưu Tầm)

Sưu Tầm ở đây
http://nmchau.club.fr/forum/viewtopic.php?t=8

18-Chơi chữ

Thể thơ chơi chữ rất phong phú và hứng thú .Chỉ xin liệt kê ra đây vài bài mẫu :

a-Chơi theo vần A B C . . .

Muốn Quy Thuyền

A Di Ðà Phật muốn quy thuyền,
B bết lòng tham hãy cứ nguyên.
C xích cho gần nơi cửa tịnh,
Ð đầu nguyện dứt mối trần duyên.

Thảo Am

Dở Dang

E không thoát khỏi xa niềm tục,
F gượng rồi ra cũng hão huyền.
T tái trần duyên tu chẳng trọn,
Y thời cũng trả,bát không quyên .

Bùi Tiến
Quán Thơ Xóm Sâu Bò


b-Chơi theo các dấu : Huyền - Sắc - Nặng - Hỏi

Huyền diệu trông lên cửa đạo thuyền,
Sắc không khôn rõ thấu căn nguyên
Nặng nề nghiệp chướng e chưa hết,
Hỏi mấy ai đà có thiện duyên .

Thảo Am

c-Các từ trong bài thơ đều dùng một phụ âm hay nguyên âm

Chuyện Cô Cháu

Cô chẳng cho con cả chén chè
Cô cho chút chút,chán cô chưa.
Chè còn,cô cất cho chua cả,
Con cũng chê,mà chó cũng chê

Bùi Tiến
Quán Thơ Xóm Sâu Bò

Chớ chớ,cháu cô chỉ chãnh chòe,
Cháo chè chi chiết chán chường chưa !
Chén chè cô cúng cho chùa cả,
Cầu cháu cùng cô chồng chẳng chê !
Mai Ninh
Quán Thơ Xóm Sâu Bò

d-Ý của các từ , cụm từ, câu thơ đều phải hiểu theo nghĩa bóng, điển . . .

Thể thơ chơi chữ này thú vị và bất ngờ nhất vì có khi người đọc nghĩ ra những ý mà chính tác giả cũng không nghĩ ra.

Tắm Trong Tù

Vùng vẫy mình trong bể nước đầy
Hết kỳ lại cọ,chẳng rời tay
Ông Tây cứ bảo mình yêu nước,
Ừ,chẳng yêu sao lại thế này ?

Nhượng Tống

Chú thích : Lệ nhà tù,một tuần mới cho tắm một lần,nên mỗi khi tắm,phạm nhân vùng vẫy kỳ cọ trong bể nước cho bằng đã.

Ghẹo Sư nữ

Ôm tiu cắp mõ ngủ kho kho,
Gió thổi mùng thiền mát mẻ cô,
Cánh cửa từ bi gài lỏng khóa,
Nén hương tế độ đốt đầy lò.
Cá khe lắng kệ đầu ngơ ngác ,
Chim suối nghe kinh cổ gật gù.
Nhắn với chúng sinh lòng muốn độ,
Ðêm đêm thường niệm chữ nam vô !

Nguyễn Khuyến ?
Mai Thế Quý ?

19-Kỵ đề

Thể thơ trong đó tất cả 8 câu đều không có từ nào chỉ đề tài
mà vẫn thể hiện đầy đủ yêu cầu của đề tài
Chưa sưu tầm ra bài mẫu

20-Bát điệp

Thể thơ trong đó tất cả 8 câu đều có lồng vào 1 hoặc 2 từ giống nhau.

Gái Muộn Chồng

Ai giám thương đâu gái có chồng
Thương vì một nỗi chực phòng không.
Thương con quốc đực kêu mùa hạ
Thương cái bèo non giạt biển đông
Thương vợ chồng Ngâu duyên chểnh mảng,
Thương cha mẹ nhện số long đong.
Cái thương quân tử thương là thế,
Có giám thương đâu gái muộn chồng.

Khuyết Danh

Còn Chơi

Ai đã hay đâu tớ chán đời
Ðời chưa chán tớ,tớ còn chơi.
Chơi cho thật chán,cho đời chán,
Ðời chán nhau thời tớ sẽ thôi.
* Nói thế,can gì tớ đã thôi ?
Ðời đương có tớ,tớ còn chơi.
Người ta chơi đã già đời cả
Như tớ năm nay mới nửa đời.

Tản Ðà

Chú thích
* Trong câu 5 Tản Ðà không có dùng từ đời
Nếu ta thay từ " can gì " bằng " đời nào " câu 5 thành :
Nói thế ,đời nào tớ đã thôi
Thì bài thơ thuộc thể Bát điệp.

21-Liên ngâm

Thể thơ trong đó 2 hoặc nhiều người làm chung một bài thơ lần lượt nhau mỗi người 1 hoặc 2 câu

Cảnh Tây Hồ

Bài này do bà Liễu Hạnh cùng ông Phùng Khắc Khoan ,1 ông họ Lý,1 ông họ Ngô chơi thuyền ở Hồ Tây liên ngâm :

Liễu
Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời

Bát ngát tứ mùa rộng mắt coi.
Cỗi ngọc xanh xanh làng phía cạnh,
Phùng
Trâu vàng biêng biếc nước vàng khơi.
Che mưa nhà lợp vài gian cỏ
Ngô
Chèo gió ai bơi một chiếc chài
Giậu thủng chó đua đàn sủa tiếng

. . . . . . . . . . . .
Phùng
Ðông hết thành xuân chửa thấy mai.
Thú cảnh yên hà sang dễ đọ
Ngô
Sóng lòng trần tục dạ đầy vơi.
Xe săn Vị Thủy tha hồ hỏi

Thuyền tới Ðào nguyên mặc sức bơi.
Chuông sớm dục thanh lòng Phật đó
Liễu
Trăng tròn soi bóng một tiên thôi.
( Nguyên văn chữ Hán Truyện Liễu Chúa-Phan Kế Bính dịch nôm
trong Việt Hán văn khảo )

22-Hạn Vận

Người ra đề cho vần nào ta phải dùng vần ấy .
Thể thơ này khác với thể Họa Vận vì không có bài xướng để dựa theo mà họa ,hơn thế nữa,ta phải :

* Tả ý thơ theo đầu đề

* Dùng 5 vần hạn định ( trong 8 câu )

Ðầu Ðề :

Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không,ai dám dở mùng chun vô ?

5 Vần hạn định : xô,cô,vô,ô,rô.

( Cuộc thi thơ do học giả Phan Kế Bính tổ chức )
Bài thơ sát với đầu đề ,hạ đúng 5 vần hạn định ,được giải nhất mà tác giả lại là một nhà sư chân tu ! :

Nào phải là ai dám giục xô
Thuận tình truớc hết tự nơi cô
Có cho mới dám trao dùi đánh
Không hẹn nào ai đẩy cửa vô ?
Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa
Ham vui quên hết chuyện dâm ô
Thói hư thuần,thước xưa còn lạc
Ðừng học làm chi gióng nhảy rô !

23-Phú Ðắc

Giải thích và phát triển ý của một câu ca dao hay một câu thơ bằng một bài thơ ,nhưng nội dung phải phù hợp với sự việc đó.


Già Còn Muốn Lấy Chồng

Phú Ðắc :
Bà già đã bảy mươi tư,
Ngồi trong cửa sổ gửi thư kén chồng

Ðã trót sinh ra kiếp má đào,
Bảy mươi tư tuổi có là bao ?
Xuân xanh xấp xỉ hàng răng rụng
Ngày vắng ân cần mảnh giấy trao.
chữ nhất nhi chung đành đã vậy (1)
Câu tam bất hiếu nữa làm sao (2)
May mà lấy được ông chồng trẻ
Họa có sinh ra được chút nào ?

Nguyễn Khuyến


Chú thích
1-Nhất nhi chung : chỉ có một chồng cho đến trọn đời.

2-Tam bất hiếu :Theo thuyết Khổng Mạnh có câu " Bãt hiếu h"u
tam ,vô hậu vĩ đại " Nghĩa là tội bất hiếu có 3 điều,không có
con trai nối dõi là tội to nhất .

Thách Vần

Phú Ðắc :
Tối um um,trống điểm thùm,
Dáng lum khum,có lẽ hùm !
Quán tùm hum !

Giời hôm như mực cỏ xanh um,
Kẽm trống đâu đây bước đánh thùm,
Ven núi chẳng nề cao với thấp,
Qua cầu đếch biết thẳng hay khum.
Ðường mây,ngọn gió,đôi đàn vạc,
Móng đá chân sim,một dấu hùm.
Sực thức đêm khuya thương kẻ lạnh,
Màn,chăn,đệm ấm hủm hùm hum.

Lê Lượng Thể
Biệt hiệu Thảo Trang

24-Láy Thơ


Thể thơ trong đó hoặc ở đầu câu,ở giữa câu hay ở cuối câu đều có từ láy-Láy có 3 loại :

a-Láy từ : Từ đùng trước được láy lại toàn bộ ở từ sau : ngời ngời-xinh xinh-ngà ngà-ngoan ngoãn . . .

b-Láy âm :Bộ phận phụ âm đàu của từ trước được láy lại ởbộ phận phụ âm của từ sau : khó khăn-đỡ đần . . .

c-Láy vần : Bộ phận vần của từ trước được láy lại ở bộ phận vần của từ sau : bồn chồn-lẩm cẩm-cheo leo . . .

d-Láy có 3 thể :
* Láy đôi : canh cánh-tà tà -lăm le . . .
Láy âm đôi

Quan Khánh

Ðứng tréo trông theo cảnh hắt heo,
Ðường đi thiên thẹo,quán cheo leo
Lợp lều quán cỏ tranh xơ xác
Xỏ kẽ kèo tre đót khẳng khiu.
Ba chạc cạy xanh hình uốn éo
Một dòng nước biết cảnh leo teo.
Thú vui quên cả niềm lo lắng
Kìa cái diều nó lộn lèo !

Hồ Xuân Hương

* Láy ba : Sạch sành sanh-dửng dừng dưng - sát sàn sạt . . .

Láy vần ba - Vĩ Tam Thanh

Ngẫu Hứng

Tiếng gà bên gối tẻ tè te,
Bóng ác trông lên hé hẻ hè.
Cây một chồi cao von vót vót,
Hoa năm sắc nở lóe lòe loe.
Chim tình bè lứa kia kìa kịa,
Ong, nhĩa vua tôi nhé nhẻ nhè.
Danh lợi mặc người ti tí tị,
Ngủ trưa chửa dậy khỏe khòe khoe.

Vô Danh

* Láy tư : Trùng trùng điệp điệp-lúng ta lúng túng-hớt hơ hớt hải-áo áo quần quần . . .

Hạ Long Tức Cảnh

Trùng trùng điệp điệp núi chon von,
Ảo ảo mơ mơ thế trận hồn ,
Lớp lớp hàng hàng hòn Bái Tử,
Non non nước nước một lòng son.

Tùng Linh
Quán Thơ Xóm Sâu Bò

25-Lái Thơ


Thể thơ có những cụm từ đôi được lái thành cụm từ đôi khác ( hoặc cụm từ ba ,nhưng rất ít ),như trong câu :
Con cá đối nằm trong cối đá
Hoặc trong cảnh Trạng Quỳnh ngồi bờ ao chơi đá bèo làm cho bà Quận Chúa phải đỏ mặt.

Muốn Quy Thuyền

Cầu đạo cần chi phải cạo đầu ,
Dầu lai dưa muối cũng dài lâu .
Na bường bát tới nương bà vãi,
Dầu sãi không tu cũng giải sầu .

Thảo Am

Nhắn Bạn

Nhắc bạn những thương tình nhạn bắc,
Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông.
Ðêm thâu tiếng dế đâu thêm mãi,
Cười ngả nghiêng cho mệt cả người.

Thảo Am

26-Cô nhạn xuất quần

Thể thơ trong đó vần câu đầu làm khác hẳn ,không giống mấy vần dưới

Tiến Sĩ Giấy :

Khéo chú hoa man khéo vẽ trò ,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu ..
Mày râu vẻ mặt vang trong nước ,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu ?
Bán tiếng , mua danh thây lũ tre ?
Bản vàng , bia đá vẫn nghìn thu .
Hỏi ai muốn ước cho con cháu ?
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu .

Nguyễn Khuyến

27-Cô nhạn nhập quần

Thể thơ trong đó mấy vần trên đi với nhau ,chỉ có vần dưới
làm khác hẳn đi

Cái Bùng Binh *

Chỉ biết tiền thôi có biết gì ,
Xác to mà bụng tỉ tì ti .
Chành bành ra rứa đeo ăn mãi ,
Ðút nhét vô hoài chẳng nói chi .
Làm tướng đời mô còn tiếng lại , **
Ðể quân trẻ nhỏ cứ thu đi . ***
Ngày đêm lúc lắc coi chừng đã ,
Chừng đã đầy thời phải đập nghe !

Khuyết Danh

* Bùng binh là một thứ bình làm bằng đất sét , trẻ con trong Nam thường dùng để bỏ dành tiền , như kiểu lợn ngoài Bắc .

** Thành ngữ gọi : đại tướng bùng binh .

*** Trẻ con có bùng binh thường thu giấu kín đáo

28-Liên Châu

Thể thơ tràng thiên dùng nguyên một vần mà câu nào cũng có vần

Chưa sưu tầm ra bài mẫu

29-Vấn nghi

Câu thơ nào cũng theo thể hỏi,nên sau mỗi câu đều đặt được dấu hỏi cả.

Vấn Nguyệt
Trải mấy thu nay vẫn hãy còn ?
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn ?
H"i con Ngọc-thỏ đà bao tuổi ?
Chớ chị Hằng-nga đã mấy con ?
DÐêm thẳm cớ chi soi gác tía ?
Ngày xanh còn thẹn với vừng son ?
Năm canh lơ lửng chờ ai đó ?
Hay có tình riêng với nước non ?

Vô Danh


30-Thuận nghịch độc
( hồi văn )

Thể thơ khi đọc xuôi là 1 bài thơ,mà đọc ngược cũng là 1 bài thơ .Thể thơ này đòi hỏi công phu ghép từ thật khéo và phải làm theo đúng luật bằng trắc để có thể đọc xuôi ,đọc ngược đều có nghĩa ,câu thơ chải chuốt không khổ đọc

Cảnh Tây Hồ

Ðọc xuôi

Ðây vui thực lạ cảnh Tây Hồ !
Trước tự trời kia khéo vẽ đồ.
Mây lẫn nước xanh màu tỏ ngọc,
Nguyệt lồng hoa thắm vẻ in châu
Cây la tán rợp từng cao thấp,
Sóng gợn cầm tâu nhịp nhỏ to.
Bày khéo thú vui non nước đủ,
Tây Hồ giá ấy dễ đâu so !

Khuyết Danh

Ðọc ngược

So đâu dễ ấy giá Hồ Tây ?
Ðủ nước non vui thú khéo bày.
To nhỏ nhịp tâu cầm gợn sóng,
Thấp cao từng rợp tán la cây.
Châu in vẻ thắm ,hoa lồng nguyệt,
Ngọc tỏ màu xanh ,nước lẫn mây.
Ðồ vẽ khéo kia trời tự trước,
Hồ Tây cảnh lạ thực vui đây !

Khuyết Danh

Xuân Hứng

Ðọc xuôi
Thi đàn tế liễu lộng hoa hài

( Hán )
Khách bộ tùy sương ấn bích đài
Kỳ cục đã thanh phong giáp trận
Tửu hồ khuynh bạch tuyết hòa bôi !
Sơ liêm thấu nguyệt hương hung trúc,
Tuyết án lăng hoa vị áp mai
Phi phất thảo am đầu tĩnh điếm
U tình cố nãi thuộc quyên ai !

Khuyết Danh

Ðọc ngược theo phiên âm chữ nôm :

Ai quen thuộc ấy có tình ư ?
Ðiếm tĩnh đầu am cỏ phất phơ
Mai ép mùi hoa lùng án tuyết
Trúc lồng hương nguyệt thấu rèm thưa
Chén hòa tuyết trắng nghiêng hồ rượu
Trận giáp phong thanh đánh cuộc cờ
Rêu biếc in sương theo bước khách
Hài hoa lỏng lẻo tới đàn thơ.

Khuyết Danh


31-Phá cách

Thơ làm thất niêm có dụng ý

Trèo Ðèo Ba Dội
Một đèo,một đèo,lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa son đỏ hoét tùm hum nóc,
Kẽ đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt léo cành thông cơn gió thốc,
Ðầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mõi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
Hồ xuân Hương

Chú thích
Bài thất ngôn bát cú này làm theo thể bình,vần bình Nhưng không theo niêm luật ( xem đối chiếu Phần Hai )

Phần II
Ðón Xem

Mấy Ðiều Kỵ Trong Thơ

Phép làm thơ ,có mấy điều tối kỵ không nên phạm đến :

1-Thất luật

những từ đáng Bằng mà làm ra Trắc hoặc đáng Trắc mà làm ra Bằng

2-Thất niêm

Câu trên đang theo luật Bằng mà câu dưới sang luật Trắc hoặc câu trên đang theo luật Trắc mà câu dưới làm sang luật Bằng

3-Lạc vận

Ðang theo vần này mà gieo sang vần khác, như như vần trên là trời mà vần dưới là mây thì gọi là lạc vận

4-Xuất vận

Người ta đã hạn định cho những cho những vần gì,mà mình dùng vần khác,thì gọi là xuất vận.

5-Trùng vận

Câu trên đã dùng một vần ,câu dưới lại dùng dùng như thế nữa thì gọi là trùng vận.

6-Cưỡng áp

Các vần gieo ép uổng, không được hiệp lắm

7-Khổ độc

Trong một bài thất ngôn,chữ thứ ba các câu chẵn,trong một bài ngũ ngôn,chữ thứ nhất các câu chẵn đáng là từ bằng mà làm ra từ trắc

8-Phong yêu hạc tất

Trong thơ thất ngôn,từ thứ tư và tứ thứ bảy,trong thơ ngũ ngôn,từ thứ hai và từ thứ năm nếu trùng một âm

9-Ðối không chỉnh

Khi những từ trong bài thơ phải đối nhau mà từ nặng từ nhẹ không được cân

10-Trùng từ hay trùng ý

Từ hay ý đã dùng rồi mà lại còn dùng nữa.
                       
THƠ VIỆT NAM

Thơ Việt Nam khác với Thơ của Tàu (Trung Hoa) ở điểm:
- Thơ Việt Nam vừa có cước vận vừa có yêu vận.
- Thơ của Tàu chỉ có cước vận mà không có yêu vận.

Thơ Việt Nam chính tông có 2 thể:
- Thơ Lục Bát.
- Thơ Song Thất Lục Bát.


1. THƠ LỤC BÁT

Lục là 6, Bát là 8.
Thơ lục bát là thể thơ khởi đầu bằng một câu 6 chữ rồi câu kế tiếp là 8 chữ. Và cứ liên tục như vậy hoài cho đến hết bài thơ.
Bài thơ lục bát muốn dài ngắn bao nhiêu câu cũng được, không hạn định số câu. Nhưng khởi đầu phải là câu 6 chữ và cuối cùng phải là câu 8 chữ.

Luật của thơ Lục Bát được định như sau:

b - B - t - T - b - B
b - B - t - T - b - B - t - B

Bằng viết tắt là b - B
Trắc viết tắt là t - T
b và t nhỏ (không viết hoa) thì Bằng hay Trắc gì cũng được.
B và T lớn (viết hoa) bắt buộc phải giữ đúng luật Bằng Trắc như đã định.

Chúng ta có thể nhớ luật bằng trắc của thơ lục bát như sau:

Tiếng thứ 1, 3, 5, 7 của câu Lục và câu Bát không cần giữ đúng luật Bằng, Trắc.
Tiếng thứ 2, 6, 8 của câu Lục và câu Bát bắt buộc phải giữ đúng luật Bằng.
Tiếng thứ 4 của câu Lục và câu Bát bắt buộc phải giữ đúng luật Trắc.
Vần: Trong thơ lục bát, tiếng thứ 6 của câu 6 phải vần với tiếng thứ 6 của câu 8, rồi tiếng thứ 8 của câu 8 phải vần với tiếng thứ 6 của câu 6 kế tiếp theo sau. Và cứ tiếp tục tuần tự như vậy hoài cho tới hết bài thơ.

Thí dụ như 4 câu thơ sau đây:

Ta cùng uống nước sông Tương
Trông nhau chẳng thấy nhớ thương dạt dào
Chập chờn trong giấc chiêm bao
Đôi nơi cách trở kiếp nào mới nguôi


GHI CHÚ QUAN TRỌNG:
Trong thơ lục bát, nếu tiếng thứ 6 của câu bát là KHÔNG DẤU thì tiếng thứ 8 (cũng của câu bát) phải là DẤU HUYỀN.
Ngược lại, nếu tiếng thứ 6 của câu bát là DẤU HUYỀN thì tiếng thứ 8 (cũng của câu bát) phải là KHÔNG DẤU.

(ÐÓ LÀ LUẬT BẮT BUỘC)


Thanh

Thanh là những tiếng phát ra nghe được khi chúng ta nói hoặc đọc.
Thanh có 2 loại:
- Thanh Bằng.
- Thanh Trắc.

Thanh bằng là những tiếng không dấu và những tiếng có dấu huyền. Thí dụ: ăn, đi, nằm, ngồi ...

Thanh trắc là những tiếng có dấu sắc, hỏi, ngã, nặng. Thí dụ: nói, đứng, đỏ, lửa, diễm, nhuyễn, lạnh, nguội ...

Vần
Vần là những tiếng khi phát âm nghe cùng âm hưởng với nhau. Vần được tính từ nguyên âm đầu tiên của một từ (bỏ phụ âm đầu ra không tính).
Chúng ta có thể khái niệm vần là những từ same sound và same spelling.
Thí dụ:
Thương, trường, sương, đường, vương ...

Sinh, đình, minh, tình, chinh ...


2. THƠ SONG THẤT LỤC BÁT

Song thất lục bát:
Song = 2, thất = 7, lục = 6, bát = 8.
Song thất lục bát là thể thơ mà hai câu đầu 7 chữ, gọi là Song thất.
Liền theo là một câu 6 chữ và một câu 8 chữ, gọi là lục bát.

Thơ song thất lục bát là bài thơ khởi đầu bằng hai câu 7 chữ, rồi tới câu 6 chữ kế tiếp là câu 8 chữ. Rồi trở lại hai câu 7 chữ tiếp theo câu 6 chữ cuối cùng là câu 8 chữ. Cứ luân phiên như vậy hoài cho tới khi chấm dứt bài thơ.
Cũng như thơ lục bát, thơ song thất lục bát dài ngắn bao nhiêu cũng được, không hạn định số câu, nhưng bắt buộc phải khởi đầu bằng hai câu 7 chữ rồi liền theo hai câu lục bát cuối cùng.

BẢNG LUẬT:

b - t - T - b - B - t - T
t - b - B - t - T - b - B
b - B - t - T - b - B
b - B - t - T - b - B - t - B

Ghi chú:
- Chữ B và T (lớn) bắt buộc phải giữ đúng luật bằng trắc.
- Chữ b và t (nhỏ) muốn bằng hay trắc gì cũng được (không cần phải giữ đúng luật).

Cách gieo vần:
- Tiếng cuối của câu thất đầu là thanh trắc phải vần với tiếng thứ 5 câu thất kế cũng là thanh trắc
- Tiếng cuối của câu thất kế thanh bằng phải vần với tiếng cuối của câu lục cũng là thanh bằng.
- Tiếng cuối của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát (đều là thanh bằng).
- Tiếng cuối của câu bát vần với tiếng thứ 5 của câu thất tiếp theo (đều là thanh bằng), và cứ như vậy mà tiếp tục làm hoài dài bao nhiêu cũng được.

Bài thơ thí dụ để minh hoạ:

Sầu chia cách nụ cười tắt lịm
Hoa lục bình nở tím ven sông
Thuyền ai lơ lửng xuôi dòng
Hoàng hôn buông xuống cõi lòng quạnh hiu

Con sông vắng bóng chiều hiu hắt
Nhịp cầu tre ai bắc đong đưa
Quê nghèo nắng nhạt mưa thưa
Hàng cau thương nhớ bóng dừa vấn vương


Hoàng Thứ Lang

Ngoại tuyến

 

Board footer

Powered by PunBB
© Copyright 2002–2008 PunBB