Trang chủ Giới thiệu Giao nhận Video clips Bài viết Liên hệ
This text will be replaced

Thông báo

Suiseki: Một viên đá có ý nghĩa để thưởng ngoạn.

#1 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN NGUYÊN BẢN
(Tái bản và chỉnh sửa)
Web: www.dacanghethuat.com; hay www.suisekiviewingstone.com

LỜI NÓI ĐẦU

Sau 5 năm sưu tập và ngoạn thạch, những trải nghiệm thật ý nghĩa giúp tôi ngộ ra một phần tinh thần minh triết trong môn nghệ thuật tưởng chừng giản dị. Trải nghiệm ngoạn thạch như là một minh sư chỉ đường dẫn lối cho ngoạn thạch nhân (người thưởng ngoạn đá cảnh) thấu hiểu sâu sắc hơn triết lý của cuộc sống luôn thuận thiên để sinh tồn.

Thời đại ngày nay, với bao mối lo sự nghĩ về cơm áo gạo tiền, quyền cao chức trọng, cuốn hút con người chạy theo và chỉ biết chạy theo cái mà sáng dậy sớm tất bật cơm nước, đưa đón con cái, sông xáo chạy việc cơ quan, đến chiều tối buông ra thì tiệc tùng tíêp khách, về đến mái ấm gia đình chỉ còn biết tắm táp vội vàng để đặt lưng lên chiếc giường là chìm sâu vào giấc ngủ mộng mị mệt mỏi mong nhanh chóng hồi phục chút sức lực để sáng hôm sau tiếp tục lòng lẫn quẩn chứ.

Đã từng có thời trải qua nên Hiệp tôi thấu đến tận xương những vấn trên
Không biết phải tham lam về kiến thức hay không mà tôi luôn có cảm giác là: "cứ học được điều này thì lại thấy thiếu điều kia", nên tinh thần tìm tòi học hỏi trong tôi lúc nào cũng luôn sẵn sàng. Vì thế, tôi muốn được chia sẻ với bạn hữu gần xa cùng sở thích những gì mình tìm tòi hoặc thu thập được cũng như sẵn sàng học hỏi những gì mình chưa biết nhằm bổ sung, trau dồi kiến thức nông cạn của mình, chứ cứ khư khư ôm mớ kiến thức nhỏ nhoi để ngày nào đó đi vào thiên thu thì đúng là quá hẹp hòi, xấu bụng. Ôi ! Mọi người chúng ta hãy mở lòng ra cho dòng kiến thức của nước nhà được chuyển động và trao đổi với nhau để ngày càng phát triển, cùng nhau phát triển, để nhờ đó mà còn chạy đua với thế giới chứ. Coi chừng ! cứ thế này thì chả còn nước nào tụt hậu hơn ta quá.

Cuối cùng, mong rằng những đúc kết nhỏ nhoi về Suiseki này ít nhiều mang đến cho quý bạn chút thông tin hữu ích. Cho dù có cố gắng đến đâu thì chắc chắn không tránh khỏi những sơ xuất, xin sẵn sàng tiếp nhận những ý kiến đóng góp chân thành để tài liệu này ngày một hay hơn, chia sẻ được cho nhiều người hơn đó chính là niềm ao ước của tôi.

Xin chân thành cảm ơn. Tháng 2 năm 2009 tái bản tháng 2 năm 2013
    Tác giả: Ninh Hữu Hiệp (Rất mong các bạn copy qua trang khác nên để tên tôn trọng bản quyền để tên tác già. Xin chân thành cảm ơn!)

Ngoại tuyến

 

#2 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

SƠ LƯỢC VỀ THẠCH HỌC & KHOÁNG VẬT HỌC

Do không phải là tài liệu địa chất nên Hiệp tôi chỉ giới thiệu sơ lược để độc giả có thể nắm những gì cần biết chỉ để phục vụ cho môn nghệ thuật này, nếu có nhu cầu chuyên sâu xin vui lòng liên hệ với chúng tôi để được giải đáp.


THẠCH HỌC

Thạch học: là môn học về đá, qua đó giúp ta biết quá trình hình thành, biết được cấu tạo và cách phân loại đá.

Đá được tạo thành từ các khoáng vật. Đá và khoáng là nguyên liệu tạo nên trái đất. Chúng ta có thể tìm thấy chúng trong môi trường sống quanh ta như muối ăn (NaCl) trong nước biển, mica (Muscovite) trong cát, hay xa hơn như ở trên núi, đồi, trong thung lũng, bờ biển… Các đá được chia thành ba nhóm tùy thuộc vào nguồn gốc và điều kiện điạ chất thành tạo chúng, bao gồm đá núi lửa (đá magma), đá trầm tích, đá biến chất. Đá magma được tạo thành trong quá trình kết tinh dung thể silicat nóng chảy rất phức tạp gọi là magma (kết tinh trong môi trường lỏng).Đá trầm tích phát sinh trong điều kiện ngoại sinh bề mặt, từ sản phẩm phá hủy của các đá thành tạo trước. Đá biến chất là sản phẩm tái kết tinh từ các đá có bất kỳ nguồn gốc nào, do nhiệt độ và áp suất tăng (tái kết tinh trong môi trường cứng) cụ thể như sau:
1.    Đá núi lửa: (đá Magma):
    Có ba kiểu đá magma:
    Xâm nhập sâu được kết tinh ở độ sâu lớn.
    Xâm nhập sâu vừa hay đá nông được tạo thành ở gần bề mặt trái đất.
    Phun trào được tạo thành do phun trào magma lên trên mặt đất.
Tất cả các đá magma là những thành tạo nhiệt độ cao và được kết tinh trong điều kiện giảm nhiệt độ. Chúng có những đặc trưng sau:
    Phần lớn có cấu trúc kết tinh có thể phân biệt bằng mắt thường (với đá xâm nhập sâu) hoặc nhận biết dưới kính hiển vi (các đá xâm nhập nông hoặc phun trào).
    Do đó chúng tạo nên những thể khối phức tạp.
    Thường có tiếp xúc xuyên cắt rõ ràng với đá vây quanh của chúng, các đá gần tiếp xúc có sự biến đổi sâu sắc.
    Tuy nhiên những dấu hiệu trên của đá magma không đặc trưng cho tất cả các loại (trừ những trường hợp ngoại lệ), do đó không thể sử dụng chúng để phân loại các đá magma. Để phân loại các đá magma phải dựa vào các dấu hiệu ổn định của đá như thành phần khoáng vật và hoá học, cấu tạo, kiến trúc cũng như dạng nằm của chúng.
Với nhu cầu ứng dụng hơn là nghiên cứu nên chúng tôi giới thiệu cách phân loại nhanh dựa theo màu sắc và kiến trúc của đá:

Màu và kiến trúc
    Màu sáng
Giàu silicat
Axít (felsic)    Màu sậm vừa    Màu sậm vừa, (feldpathic)    Màu sậm
Ít silicat, (mafic,basic)
Hạt mịn
(Extrusive)    Rhyolite    Andesite    Trachyte    Basalt
Hạt trung bình
(Dyke)    Quartz porphyry    Andesite
porphyry    Monzonite    Dolerite
Hạt thô
(Intrusive)    Granite    Diorite    Syenite    Gabbro
Cấu tạo bọt thủy tinh    Pumice    Scoria    Vesicular basalt    Obsidian
Hạt trung bình đến thô (cabonate siêu mafic)    Cabonatite    Dunite    Lamprophyre    Peridotite

Hiện nay, các đá được ưa chuộng chơi suiseki là basalt do vậy chúng tôi chỉ nói về chất liệu đá basalt phiên âm tiếng Việt là ba - zan.
Đá Basalt là đá núi lửa phun trào. Basalt phân bố rộng rãi trên vỏ trái đất tạo thành những lớp phủ, dòng chảy diện tích lớn. Dung nham basalt có độ linh hoạt cao thường phun theo kiểu khe nứt, ít hơn là basalt tạo thành theo kiểu phun trung tâm.
Basalt thành phần của các yếu tố kiến trúc khác nhau của vỏ trái đất và liên quan đến những kiểu hoạt động kiến tạo nhất định.
Thông số kỹ thuật:
    Cỡ hạt: rất mịn hoặc thủy tinh.
    Kiến trúc: đặc xít, không thấy khoáng vật.
    Cấu trúc: phổ biến nhất của basalt là dòng chảy, lỗ hổng, và hạnh nhân.
    Màu: đen, đen đậm khi còn mới, bị phong hóa thì chuyển đỏ hay xanh ở lớp vỏ bên ngoài.
    Thành phần: Silicate 50%; Alumina: 16%; Calcium: 13%;
                Sắt và magiê 18%.
    Khoáng vật tạo đá: Plagioclase, feldspar (labradorite), pyroxene, olivine, Magnetic.
Phân loại: theo thành phần khoáng vật và hóa học thì có 2 loại
    Basalt olivine: là loại basalt giàu ban tinh olivine và không bảo hòa silít
(45% trọng lượng). Ban tinh olivine chiếm đến 40% khối lượng đá.
    Basalt tholeitic: phân biệt với basalt olivine bởi hàm lượng oxít silít 
tăng cao đến 50% trọng lượng. Đặc trưng của basalt tholeitic là có mạch thạch anh và feldspar kiềm trong nền cơ sở. Đồng thời basalt tholeitic chứa ít ban tinh olivine hơn basalt olivine.

Ngoại tuyến

 

#3 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

Phân loại theo kiến trúc thì có 3 loại:
    Basalt kiềm, siêu kiềm.
    Basalt lỗ hổng.
    Basalt kiềm và tholeitic.
Khu vực phân bố của basalt là vành đai Thái bình dương, thường basalt đại dương kiềm hơn basalt lục địa. Basalt ở Nhật là basalt chứa anorthite. Basalt ở Việt Nam có mặt ở Điện Biên Phủ, Tây Nguyên, Phủ Quỳ, Daklak, Lâm Đồng, Plei ku.

Ngoài Basalt, nghệ thuật suiseki còn dùng đến các loại đá biến chất có những nếp gấp trên đá rõ rệt như Schist, Gneiss, Marble có thể dùng để biểu tượng các hiện tượng thiên nhiên (kiểu thức bề mặt-hình ảnh trên mặt đá) qua các kiến trúc Itokaki, Sabahana, Baika-seki. 


KHOÁNG VẬT HỌC

Tưởng chỉ cần đi sâu vào thạch học, nhưng đá lại được tạo thành từ các khoáng vật. Do đó, tìm hiểu thêm về khoáng vật sẽ giúp ta nắm vững hơn về chất liệu của đá.

Cho đến nay, có khoảng 3500 loại khoáng khác nhau đã được biết và tồn tại nhưng chỉ có trên trăm loại là thông dụng. Hầu hết, các khoáng vật ở thể rắn nhưng một vài loại ở thể lỏng hoặc khí. Nước là một ví dụ khoáng ở dạng lỏng.

Cách tốt nhất để học về đá và khoáng là tìm nhiều các loại đá và khoáng khác nhau ngay trong khu vực ta sinh sống, ta dễ dàng tìm thấy khoáng mica trong đống cát xây dựng hay đá granite lát bên vệ đường, đá xanh xây dựng có nguồn gốc ở Biên Hòa, hoặc khi đi chơi ở các bờ biển, bờ suối. Dùng kính lúp để quan sát tìm ra có bao nhiêu loại khoáng chất tạo nên mẫu đá mà ta lượm được, ta cũng phải xem kiến trúc, màu, độ cứng…

Khoáng chất: là thành phần tạo các loại đá (đá Granite có các khoáng chất như thạch anh, feldspar, plagioclase, mica, hornblende).
1.    Tính chất vật lý của khoáng vật:
    Độ trong suốt: Khi ánh sáng chiếu vào môi trường khoáng vật, một phần ánh sáng bị phản xạ, phần khác xuyên qua môi trường. Phần ánh sáng xuyên qua này sẽ quyết định độ trong suốt của khoáng vật. Một khoáng vật tuyệt đối trong suốt là khoáng vật để ánh sáng xuyên qua hoàn toàn, nghĩa là không hấp thụ một chút ánh sáng nào.
    Ánh và chiết suất: Năng lực phản xạ của khoáng vật khi được chiếu tia sáng lên bề mặt của nó gọi là ánh của khoáng vật. Ánh là khả năng phản xạ của khoáng vật. Có các loại ánh:
    Ánh thủy tinh: (chiết suất: 1,3-1,9) thạch anh, nước đá, granate.
    Ánh kim cương: (chiết suất: 1,9-2,6) kim cương, zircon.
    Ánh bán kim: (chiết suất: 2,6-3,0)  hematite.
    Ánh kim: (chiết suất: lớn hơn 3) Antimonite.
Ngoài 4 loại ánh kể trên còn có một số loại ánh khác như ánh mỡ và ánh nhựa để chỉ những khoáng vật có ánh kim cương hay thủy tinh , nhưng vì mặt phản chiếu không nhẵn làm cho phần ánh sáng chiếu qua phản xạ phân tán theo nhiều phương khác nhau, năng suất phản xạ giảm xuống, gây cảm giác giống như mặt phản chiếu có tráng một lớp mỡ hay nhựa. Điều kiện quan sát khoáng vật tốt nhất là quan sát dưới ánh sáng mặt trời.

    Màu của khoáng vật: Màu sắc là đặc tính quan trọng của khoáng vật. Là một trong những tiêu chí để nhận dạng chúng. Có thể phân thành 3 loại:
    Màu tự sắc: Màu tự sắc là màu của bản thân của khoáng vật, tương đối ổn định, là dấu hiệu giám định quan trọng.
    Màu ngoại sắc: Màu ngoại sắc là do các tạp chất cơ học phân tán nhỏ lẫn vào dưới hình thức các tinh dung giao. Các hợp chất đó có thể là vô cơ hoặc hữu cơ. Các tạp chất đó hoặc phân tán đều trong khoáng vật hoặc tập trung lại thành các đường vân hoa rất đẹp như khoáng vật Mã não. Ví dụ : thạch anh SiO2 nhưng nếu lẫn actinolite hoặc clorite thì có màu xanh lục.
    Màu giả sắc: Màu giả sắc không liên quan đến bản sắc bên trong của khoáng vật, mà do hiện tượng giao thoa ánh sáng trên mặt khoáng vật của ánh sáng tới và ánh sáng phản xạ. Màu giả thường xuất hiện giống như màu cầu vồng.
    Thông thường những màu sắc được lấy làm tiêu chuẩn là những màu dưới đây: màu tím – thạch anh tím, màu xanh – azurite, Màu lục – Malachite, màu vàng – thư hoàng, màu đỏ - thần sa, màu nâu – limonite, màu đen – piroluzite, màu trắng thiếc – acsenpirite, màu đen sắt – manhetite, màu đỏ đồng – đồng tự nhiên, màu vàng đồng – chancopirite, màu vàng kim – vàng tự nhiên.
2.    Tính chất cơ học của khoáng vật:   
    Cát khai: cát khai là đặc tính đặc biệt của vật chất kết tinh. Các tinh thể khoáng vật hay hạt khoáng vật dưới tác dụng ngoại lực tách thành những mặt phẳng rất nhẵn theo phương hướng kết tinh nhất định, những mặt tách ra như vậy gọi là mặt cát khai. Sự phân bố các mặt cát khai trên tinh thể hoàn toàn phù hợp với quy luật đối xứng và song song với  những mặt có mật độ lớn nhất trong kiến trúc tinh thể. Tính cát khai đối với một số khoáng vật là dấu hiệu giám định đặc trưng. Trong khoáng vật có thể chia ra 5 mức độ cát khai:
    Cát khai rất hoàn toàn: khoáng vật dễ bị tách theo các phương nhất định thành những lớp mỏng như mica, clorite.
    Cát khai hoàn toàn: lấy búa đập nhẹ lên khoáng vật, chúng bị tách ra những mảnh nhỏ giống tinh thể mẹ, mặt cát khai tương đối nhẵn như galen, canxit.
    Cát khai trung bình: khi bị tác dụng của lực ngoài khó tách ra thành những mặt phẳng nhất định. Trên mặt mảnh vụn của khoáng vật vừa

Ngoại tuyến

 

#4 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

thấy có mặt cát khai vừa thấy có vết vỡ, mặt cát khai không liên tục như piroxen, amphibon. 
    Cát khai không hoàn toàn: rất khó nhìn thấy những mặt cát khai, đại bộ phận là những vết vỡ như cassiterite.
    Cát khai rất không hoàn toàn: trên thực tế là không có cát khai, chỉ trong những trường hợp đặc biệt mới phát hiện ra những mặt cát khai như thạch anh.

    Tách khai: là tính chất của khoáng vật chịu tác dụng của ngoại lực thì tách theo một số phương nào đó. Bên ngoài, mặt tách khai cũng tương tự như mặt cát khai nên người ta còn gọi là giả cát khai. Không quan trọng như cát khai.

    Vết vỡ: dưới tác dụng của ngoại lực khoáng vật bị vỡ ra không theo bất cứ một phương kết tinh nào mà thành những vết vỡ lồi lõm trên bề mặt khoáng vật. Cát khai chỉ phát hiện được trên các vật chất kết tinh, còn vết vỡ thì đều có thể phát hiện trên cả vật kết tinh hay vô định hình. Có các loại vết vỡ sau:
    Vết vỡ vỏ sò: trên mặt vết vỡ có những vòng tròn đồng tâm như vỏ sò. Thạch anh là điển hình.
    Vết vỡ dạng sợi: trên các khoáng vật có cấu tạo dạng sợi khi vỡ thành những mảnh nhỏ có dạng sợi như vết vỡ của atbet.
    Vết vỡ răng cưa: dùng để chỉ những vết vỡ sắc nhọn lởm chởm giống như hình răng cưa. Những khoáng vật có tính kéo dài mạnh thường có vết vỡ dạng này như đồng tự nhiên, bạc tự nhiên.
    Vết vỡ xớ: là vết vỡ của nhưng khoáng vật có cấu tạo sợi khi tách thành mảnh nhỏ thì bị xước chứ không liên tục như amphibon.
    Vết vỡ dạng đất: chỉ những khoáng vật trên mặt vỡ có bột mịn như đất sét : Kaolin.

    Độ cứng: dùng để chỉ sức chống lại những lực tác động bên ngoài lên khoáng vật. Có nhiều phương pháp thử độ cứng như rạch, nghiền, ép. Thông thường dùng phương pháp rạch để thử độ cứng tương đối. Trong khoáng vật học thường dùng 10 khoáng vật phổ biến để làm thang độ cứng “thang độ cứng của nhà khoáng vật học người Áo - Friedrich Mohs phát triển nó vào năm 1825”

Khoáng vật    Độ cứng Mohs
Tan:                  1
Thạch cao:       2
Canxít:             3
Fluorit:              4
Apatit:               5
Octocla:            6
Thạch anh:       7
Topa:                8
Conrindon:       9
Kim cương    10
Cần lưu ý:
•    Trên cùng một tinh thể có thể có độ cứng khác nhau ở những mặt tinh thể khác nhau.
•    Để thử độ cứng chính xác, hiện nay thế giới có máy đo độ cứng bằng siêu âm, hay sóng điện từ.
•    Khi có khoáng vật thô cần thử độ cứng tương đối, ta có thể làm như sau:
Bước 1: Dự đoán khoáng vật cứng đến cỡ nào?
Bước 2: Dùng khoáng vật mẫu (gọi là thang thử) có độ cứng gần với độ cứng ta đã dự đoán để rạch vào vật cần thử (gọi là mẫu thử), nhớ dùng đỉnh nhọn hoặc cạnh sắc của thang thử), sẽ xảy ra 2 trường hợp như sau: một là nếu trên mặt mẫu thử để lại bột đá, thì mẫu thử có độ cứng lớn hơn thang thử, vậy ta cần dùng thang thử có độ cứng lớn hơn (0,5 hay 1 đơn vị) để thử, rồi cứ thế tiếp tục cho đến khi tìm ra thang thử có độ cứng lớn hơn mẫu thử mới thôi, lúc này độ cứng trung bình giữa độ cứng lớn hơn và độ cứng nhỏ hơn vừa thử chính là độ cứng của mẫu thử hay khoáng vật cần thử, tất nhiên ở mức độ tương đối thôi. Nếu vết rạch hằn xuống mặt mẫu, ta có thể thay thang thử có độ cứng nhỏ hơn (0,5 hay 1 đơn vị), cứ thế cho đến khi tìm ra thang có độ cứng nhỏ hơn mẫu thử là xong. Lưu ý dùng kính lúp để xem vết rạch, thử 2 đến 3 lần ở nhiều chỗ.
3.     Tỷ trọng của khoáng vật:
    Tỷ trọng của  khoáng vật là một trong những hằng số vật lý trong khi giám định. Mặt khác, trong tìm kiếm và tuyển khoáng, trong nghiên cứu đồng hình đều lợi dụng tính chất này. Tỷ trọng của khoáng vật khác nhau rất nhiều. Từ những chất khí thiên nhiên tỷ trọng rất thấp tới các khoáng vật nhóm Os-Ir có tỷ trọng đến 23. Nhưng tuyệt đại bộ phận khoáng vật có tỷ trọng từ 2,5 đến 4. Có hai phương pháp thử tỷ trọng là phương pháp bình tỷ trọng và phương pháp dung dịch nặng.
Ngoài những đặc tính trên còn những tính chất vật lý khác như từ tính, tĩnh điện, tính phóng xạ, tính phát quang…

Ngoại tuyến

 

#5 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

SUISEKI LÀ GÌ ?

Danh từ Suiseki phát âm tiếng Việt là “Sư sê ki”. Suiseki là một từ ngữ Nhật Bản với  "Sui" nghĩa là "thủy" (nước). "Seki" là "thạch" (đá), là nghệ thuật  thưởng ngoạn đá khi đá vẫn giữ được điều kiện tự nhiên của chúng. Suiseki thường được trưng bày trên đế gỗ đã chạm khắc gọi là Dai hay Daiza hoặc khi chúng được trưng bày trên khay làm bằng sứ hoặc đất nung có rải cát hay hạt mịn hoặc nước Suiban. Trải qua nhiều nước, tên của nghệ thuật này cũng có khác nhau. Tại Trung Hoa, suiseki được gọi là Gongshi (hay Qishi), đá hiếm hoặc Guaishi, đá lạ hoặc đá chế tác. Tại Triều tiên, Suiseki đuợc gọi là Suseok, là đá vĩnh cửu. Ở phương Tây gọi là đá thưởng ngoạn (viewing stone). Còn ở Việt Nam Suiseki được gọi là đá cảnh.
Nghệ thuật thưởng ngoạn đá bắt đầu từ hơn 1000 năm trước tại Trung Hoa, sau đó lan sang Triều Tiên, Nhật Bản, qua phương Tây trong vòng 100 năm trở lại đây và những nước khác trên thế giới. Ngày nay, Suiseki cũng giống như Bosai trở thành thú chơi toàn cầu. Các hiệp hội , câu lạc bộ Suiseki ngày càng xuất hiện nhiều trên toàn thế giới như tại Nhật có Nippon suiseki association, ở Châu Âu có Italian association of Suiseki lovers… các cuộc thi thường được tổ chức bởi những tổ chức uy tín này.
Suiseki được giới thiệu sang Nhật trong Triều đại Nữ Hoàng nhiếp chính Suiko khoảng 600 năm sau Công nguyên như là món quà từ Hoàng đế Trung Hoa. Tại Nhật, vì đất chật người đông, họ đã tìm cách  thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên qua cảnh vật thu nhỏ như Bonsai và Suiseki. Dân tộc này có  biệt tài là thu dụng những cái hay, cái  đẹp của nước ngoài, biến hóa thành của mình với những nét đặc trưng riêng mang nặng bản sắc văn hóa thiền định “Zen”.
Đối với phương Tây, Suiseki được coi là đá có hình ảnh trừu tượng, kỳ lạ, nhưng gây ấn tượng mạnh. Chúng có hình dáng đẹp và phá cách thường được đặt theo chiều đứng, uốn khúc, lồi lõm gây ấn tượng sâu sắc, với những lỗ thủng lớn nhỏ, khe sâu được tạo ra do sự bào mòn, phong hóa trong thiên nhiên.
Nghệ thuật chơi của người Trung Hoa trở nên phổ biến ở Nhật, nhưng rồi thời gian trôi qua, người Nhật đã thay đổi phong cách chơi khác với người Trung Hoa như đổi thế chơi đứng sang thế nằm, với hình dáng phong cảnh, đồi, cao nguyên, bình nguyên, hoặc các chủ đề khác như con người, thú vật, cây cỏ…
Người Nhật thường tự hào rằng sau khi thú chơi đá đến Nhật Bản nó đã có những biến đổi mới lạ với xu hướng chung là bóng tối đã đánh bại màu sắc, đặc biệt màu đen sẫm được coi là lý tưởng, ngược lại trong nền văn hóa của Trung Hoa nhiều viên đá loè loẹt thường được đánh giá cao. Cũng như thế, cách trưng bày một suiseki phải theo nghi thức, ví dụ cách trưng bày Tokonoma, là sự phát triển của người Nhật, trong khi đó ở Trung Hoa các viên đá thường được trưng bày lộn xộn với nhau.
Như vậy, Gongshi (hay Qishi) xuất phát từ Trung Hoa nhưng lại phát triển nhất ở Nhật Bản và bây giờ thì cả thế giới cùng chơi và phát triển theo những cách thức có đôi chút khác nhau nhưng tựu chung vẫn dựa trên cách phân loại truyền thống theo 4 tiêu chuẩn chính: hình dáng, xuất xứ, kiểu thức bề mặt viên đá và màu sắc. Nếu có thêm thắt cũng chỉ là phân loại theo kích thước như đá nhỏ (thấp hơn 15cm), đá tầm trung (15 đến 45cm), cao (từ 45cm trở lên), cách khác là phân loại theo sự biến cải có nghĩa là giữ viên đá nguyên bản hay chế tác, gọt giũa thêm cho đá có hình dáng đẹp hơn.
Do đâu mà người Nhật lại biến chế cách chơi đá của người Trung Hoa? Chính là do bản sắc văn hóa đặt trưng của người Nhật. Văn hóa Nhật thấm nhuần tinh thần Thiền Tông trong nhiều lĩnh vực: thi ca,  hội họa, kiến trúc,  điêu khắc, sân khấu,  đình viên cho  đến  trà đạo,  hoa đạo,  võ đạo.  Không những  ảnh hưởng đến nghệ thuật, Thiền còn  đi vào đời sống thường ngày  của người dân Nhật  như trong ẩm thực, nghỉ ngơi và cả trong kinh doanh.  Đã không sai lầm khi nói rằng Thiền đã trở thành sinh mệnh và cốt tủy của nền văn hóa Nhật. Nhiều quốc gia cũng chịu ảnh hưởng Thiền Tông, nhưng không nơi nào thấm nhuần đến mức độ sâu sắc và bền vững như nền văn hóa của nước này "Đi cũng thiền, ngồi  cũng thiền".
Hiện nay ở Nhật có ba Thiền phái sau:
Thiền Lâm Tế (Rinzai Sect) 
Dòng Thiền này do công khai sáng của Thiền sư người Nhật – Vinh Tây (Eisai -1141 - 1215).
Thiền Tào Động (Soto Sect)
Thiền Tào Động được  Thiền sư Đạo Nguyên  (Dogen - 1200 -  1253) khai sáng. Đạo Nguyên vốn là đệ tử của  Ngài Vĩnh Tây, sau đó ông sang Trung Hoa du học và  trở về Nhật Bản xây dựng Thiền phái này.
Thiền Hoàng Bá (Obaku Sect) 
  Đây là Thiền phái thứ ba của  người Nhật, có tầm ảnh hưởng ít hơn hai Thiền  phái kể trên,  do Thiền sư  người Trung Hoa  Ẩn Nguyên (Yin Yuan  1592 - 1653) khai  sáng.
Nhìn chung lại cả ba Thiền phái trên đã phát triển mạnh tại Nhật và có  tầm ảnh hưởng sâu  rộng trong đời sống tâm linh của người Nhật.
Cả ba đều có nhiều trường đại học, nhà xuất bản kinh sách riêng, cơ quan  từ thiện, xã hội... Không những  thế, Thiền đã ăn sâu vào  tiềm thức của người  Nhật: Trà đạo, nghê  thuật cắm Hoa,  nghệ thuật Suiseki, Hoa đạo, Thư pháp...   Một trong những ảnh hưởng lớn với nền văn hóa này là Thiền Tông.

Ngoại tuyến

 

#6 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

PHÂN LOẠI CƠ BẢN SUISEKI

Làm thế nào để ta có thể phân loại được một viên đá? Ở mỗi góc nhìn khác nhau nó cho ta hình con thỏ hoặc một con sư tử? Nó có thể được phân thành  “kiểu hình ảnh” hoặc “vật thể” ? Nếu nó là cả hai, ta phải chọn cách phân loại nào?
Chủ nhân vui lòng quyết định.
Trong thế giới đá cảnh, không chỉ có một cách để phân loại viên đá. Ảnh hưởng bởi những hệ thống phân loại truyền thống, phân loại đá cảnh vẫn là vấn đề tư duy và sự tinh tế của nhà sưu tập. Một viên đá thật ấn tượng có thể hợp với nhiều cách phân loại, và nhà sưu tập được vinh dự chọn cách phân loại nào mà họ cảm thấy nó làm nổi bật tính thiên nhiên nhất của viên đá. Để có một cái tên hay cho tác phẩm thì cần phải tìm được cách phân loại tối ưu.
Trong khi người Trung Hoa phân loại đá của họ dựa vào nguồn gốc, thì người Nhật, Triều Tiên và phương Tây sử dụng nhiều hệ thống phân loại khác nhau, một trong số đó là hình dáng, màu sắc, kiểu hình ảnh bề mặt…
Nói chung, có dùng một hoặc hai cách phân loại thì cũng nhằm mục đích là đặt tên cho một suiseki.
Trật tự đặt tên tác phẩm Suiseki của người Nhật: (nếu có hơn một hệ thống phân loại được đề nghị).
o    nơi xuất xứ
o    kiểu bề mặt
o    màu
o    hình dáng
o    một cái tên đầy chất thơ được dùng sau lần phân loại cuối cùng
o    hiếm khi sử dụng cả bốn tiêu chí này.
Hầu hết người Mỹ phân loại Suiseki theo hình dáng hay kiểu dáng bề mặt, đôi khi theo nguồn gốc, và để tăng tính phổ biến thì thêm một cái tên có chất thơ phú.
Các nhà sưu tập Nhật Bản cũng sử dụng những kiểu phân loại sau:
•    Biseki:
o    đá đã được mài và đánh bóng để làm tăng vẻ đẹp của chúng.
o    không cần có một hình dáng gợi cảm như Suiseki, mà cần hình dáng bắt mắt hiện trên bề mặt đá do chất liệu tạo thành.
o    thường được trưng bày với Suiseki.
o    những nhà sưu tập Nhật Bản thích khắc hoặc đánh bóng để tăng kiểu hình hoa hoặc màu của nó.
•    Meiseki (đá nổi tiếng):
o    Suiseki hay Biseki nổi tiếng bởi chất lượng và vẻ đẹp nổi bật
o    Thường được truyền qua nhiều thế hệ có khi được cả hàng trăm năm.
•    Yuraiseki (đá lịch sử):
o    Suiseki hoặc Biseki được sở hữu bởi những người nổi tiếng trong lịch sử.
o    Suiseki hoặc Biseki được gắn liền với những sự kiện lịch sử.
•    Reiheki (dốc sườn):
o    hình những dòng chảy thẳng đứng.
o    bề mặt bị ăn mòn sâu.
o    hình dạng cong xoắn.
o    đá có những lỗ thủng thấu quang.


Dưới đây là danh sách cách phân loại theo mỗi nền văn hóa:
CÁCH PHÂN LOẠI CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN
I. PHÂN LOẠI THEO HÌNH DÁNG
Sansui keiseki/Sansui keijo-seki: đá có hình dáng phong cảnh :
•    Yamagata-ishi: đá có hình dáng núi. Hình dáng núi nhìn từ xa (viễn cảnh) hay nhìn gần (cận cảnh) hoặc vài ngọn núi.
o    Toyama-ishi/Enzan-seki Hình dáng núi nhìn từ thật xa (viễn cảnh)
o    Kinzan-seki Hình dáng núi nhìn gần (cận cảnh).
o    Koho-seki có dáng như núi với chỉ một đỉnh.
o    Koho-seki có dáng như núi đôi (hai núi hoặc một núi đơn với hai đỉnh ).
o    Sampo-seki có dáng như ba đỉnh (các núi với ba đỉnh riêng biệt)
o    Rempo-seki có dáng như dãy núi (dãy của các núi nhiều hơn một núi đơn với một hoặc nhiều đỉnh riêng biệt).
o    Seigaku-seki có dáng như núi xù xì, gồ ghề (các đá núi với hình dạng xù xì đặc trưng).
o    Sekkei-ishi có dáng như núi phủ tuyết (các đá núi với khoáng giống như tuyết ở đỉnh hoặc sườn)
•    Taki-ishi  có dáng như thác nước (tương tự núi với một hoặc nhiều thác nước. Ám chỉ thác nước bởi mạch khoáng màu trắng ở trên đỉnh của đá đi thẳng xuống)
o    Itodaki-ishi có dáng như dòng thác nước ( ám chỉ bởi một dòng mỏng giống thạch anh chảy xuống phía trước đá)
o    Nudodaki-ishi có dáng như mảng thác nước ( Những đường rộng của vỉa màu sáng đi xuống phía trước sườn của đá)
o    Karedaki-ishi có dáng như thác nước cạn Yamagata-taki-ishi có dáng như núi thác nước (các đá núi với một hoặc nhiều các thác nước xuất hiện trên bề mặt phía trước của chúng)
o    Keiryu-seki có dáng như suối núi (suối chảy qua làng, thường thường mạch thạch anh trắng nơi dòng suối đã chảy. Lý tưởng nếu suối chảy theo đường chéo (zíc zắc) Ví dụ: từ trước ra sau)
•    Dan-seki/Dan-ishi có dáng như Cao nguyên ( bậc thang, sườn đồi hoặc một loạt bậc thang phẳng nâng lên hướng về vách đá. Kiểu cổ có ít nhất ba bậc khác nhau về chiều dài, bậc thang nên thẳng đứng hoặc gần thẳng đứng).
•    Shimagata-ishi có dáng như hòn đảo ( giống như hòn đảo nhô lên từ mặt nước, thấp đến cao, tương tự vịnh nhỏ hoặc cái lạch (giữa hai hòn đảo) thông thường trưng bày trong suiban hoặc doban chứa cát hoặc nước để làm nổi bật hòn đảo).
•    Doha-seki/Doha-ishi có dáng như dốc ( tương tự những đồi dốc của vùng đồng bằng hoặc một con dốc nhẹ nâng lên tạo thành đồi).
Isogata-ishi có dáng như bờ biển (thường nông và ám chỉ một rặng đá ,dải đất ven bờ).
o    Araiso/Araiso-ishi có dáng như đá ngầm (các loạI đá thô ám chỉ mép gồ ghề hoặc đồi cát nhỏ nhô lên khỏi mặt biển).
o    Hirasu/Hirasu-ishi : có dáng như dãy cát dài ở cửa biển
o    Misaki-ishi: có dáng như mũi đất
•    Mizutamari-ishi có dáng như có hồ trên núi.
•    Tamari-ishi có dáng như hồ nhỏ hay hồ
•    Mitzutame-ishi có dáng như ao.
•    Iwagata-ishi có dáng như dãy đá ở bờ biển (Tương tự dạng bờ biển lộng gió; vách đá dốc giống như bị sóng đánh).                                                                                             
•    Dokutsu-ishi có dáng như hang hốc sâu và tối.
•    Yadori-ishi  có dáng như hang động.
•    Amayadori-ishi có dáng như hang động trú mưa.
Keisho-seki Vật thể
•    Yagata-ishi có dáng như nhà ở (nhiều loại nhà của những dân tộc khác nhau)
•    Kuzuya-ishi có dáng như nhà tranh
•    Funagata-ishi có dáng như con thuyền (các loại thuyền khác nhau như thuyền gỗ, thuyền buồm, thuyền nhà. 
•    Hashi-ishi có dáng như chiếc cầu kể cả cầu gỗ.
•    Dobutsu-seki có dáng như động vật
•    Torigata-ishi có dáng như con chim.
•    Mushigata-ishi có dáng như côn trùng (đặc biệt là con bướm, chuồn chuồn, dế, cào cào).
•    Uogata-ishi có dáng như con cá (đặc biệt là cá vàng)
•    Sugata-ishi/Jimbutsu-seki có dáng như người (đặc biệt là dân câu cá, nông dân, thiếu nữ, đức Phật, hòa thượng, hoặc các bộ phận cơ thể của người.)
•    Sankeishi-seki   có hình dáng của ba chủ đề khác nhau khi nhìn từ ba góc độ

Ngoại tuyến

 

#7 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

II. PHÂN LOẠI THEO MÀU
•    Kuro-ishi có màu đen
•    Maguro-ishi có màu đen tuyền
•    Aka-ishi có màu đỏ
•    Ao-ishi có màu xanh dương
•    Murasaki-ishi có màu tím
•    Ogon-seki có màu vàng
•    Kinko-seki có màu vàng đỏ
•    Goshiki-ishi/Goshiki-seki có 5 màu (sự pha trộn của màu đỏ, vàng và xanh lục cùng với xám xanh dương, tím, trắng và đen.)

III. PHÂN LOẠI THEO HÌNH ẢNH TRÊN ĐÁ
Do các khoáng vật tạo đá hoặc tạp chất xen lẫn vào đá nhưng có màu sắc khác biệt chúng tạo ra những hình ảnh nổi bật nói lên một chủ đề nào đó.
Kigata-ishi có hình thực vật
•    Mori-ishi có khung cảnh rừng
•    Bonsai-ishi có hình Bonsai (cả cây và chậu.)
•    Hanagata-ishi có hình bông hoa:
o    Kikumon-seki/Kikka-seki/Kiku-ishi có hình đóa hoa trong vườn to như hình quả bóng.
o    Baika-seki có hình hoa Cúc đại đoá của Nhật.
o    Nobara-ishi có hình bông hồng dại.
•    Migata-ishi có hình trái cây.
•    Hagata-ishi  có hình chiếc lá hoặc nhánh hoa
•    Kusagata-ishi có hình thảm cỏ (thảm cỏ bụi tre)
Gensho-seki có hình bầu trời 
•    Tsukigata-ishi có hình mặt trăng .
•    Higata-ishi có hình mặt trời (màu của đá thể hiện màu của mặt trời mọc, mặt trời lặn)
•    Hoshigata-ishi có hình ngôi sao .
Tenko-seki có hình thể hiện hiện tượng thời tiết 
•    Amagata-ishi có hình thể hiện mưa
•    Yukigata-ishi có hình thể hiện tuyết rơi
•    Raiko-seki có hình thể hiện sét, sấm chớp
Chusho-seki có hình thể hiện sự trừu tượng
•    Tori-ishi có hình thể hiện dáng của con cọp
•    Tangled-net-pattern stones có hình thể hiện lưới đánh cá.
•    Jagure có hình thể hiện dáng của con rắn.
•    Moniri-ishi có hình thể hiện cảnh vui nhộn
IV. PHÂN LOẠI THEO NGUỒN GỐC KHAI THÁC
ở Nhật Bản :
•    Kamogawa river stones Đá đen huyền loại đá hình núi nhìn xa và sườn đồi được tìm thấy ở sông Kamogawa tại Kyoto.
•    Kurama stones Đá granite nâu hình đảo, núi xa, đá vôi nâu xám có hình lưới cá tìm thấy gần sông Kamogawa, Kyoto.
•    Kibune stones Hình núi, thác nước, núi có suối màu tím, đỏ đậm, xám tìm thấy quanh sông Kamgawa.
•    Setagawa river stones Hình núi đen, sườn đồi, hình rằn ri da hổ tìm thấy ở sông Setagawa tại Shiga và Kyoto.
•    Nachiguro stones Hình núi đá đen hoặc bình nguyên từ núi đá ở Mie.
•    Kamuikotan stones Đá xanh đen loại đá hình núi nhìn xa, bình nguyên và sườn đồi được tìm thấy ở sông và suối Hokkaido.
•    Sado red stones hình đảo và núi đỏ lấy từ núi ở Niigata.
•    Ibigawa river stones Hình bờ biển, đảo, hồ nước, chỗ ở hoặc thác nước từ sông và suối ở Gifu.
•    Sajigawa river stones Hình bờ biển, đảo, hồ nước, chỗ ở hoặc thác nước có màu đen hay xanh đen đậm từ sông và suối ở Tottori.
•    Furuya stones Hình bờ biển, đảo, hồ nước, chỗ ở hoặc thác nước từ sông và suối ở có màu đen hay xám đen từ Wakayama.
•    Seigaku stones Hình bờ biển, đảo, hồ nước, chỗ ở hoặc thác nước từ sông và suối ở có màu đen hay xám đen từ Shizuoka.
•    Neodani stones Nhiều loại đá bao gồm hình hoa cúc đại đóa tìm thấy từ Gifu.
Có phân chia thế nào thì người Nhật vẫn chỉ thường dùng hai cách phân loại suiseki là Hình dáng và Kiểu thức bề mặt đá (vân thạch) mà thôi.

Ngoại tuyến

 

#8 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

CÁCH PHÂN LOẠI THEO NGƯỜI TRUNG HOA
I. PHÂN LOẠI ĐÁ THEO NGUỒN GỐC

Người Trung Hoa sử dụng hầu hết các loại khoáng chất, đá để chơi cảnh chứ không bị gò bó như người Nhật. Họ phân biệt dựa vào nguồn gốc xuất xứ. Theo cách chơi này đã làm cho làng đá của họ phát triển rực rỡ. Họ cũng dùng dụng cụ để chế tác tạo dáng đánh bóng để tăng thêm nét đẹp cho viên đá. 
•    Lingbishi - Lingbi, tỉnh Anhui. Là nơi có đá hang động có màu xám đậm hoặc đen. Tất cả các màu và các loại. Có rãnh, lạch trên bề mặt vì sự xói mòn. Đá vôi đen, đá vôi xám vừa bị ăn mòn bởi thiên nhiên, đá vôi xanh hình đỉnh núi, hang động. Màu đậm dễ được chấp nhận. Đôi khi có rãnh đất sét đỏ làm nền.
•    Taihushi – Hồ Tai, tỉnh Jiangsu. Hay Wuxi, tỉnh Zheijiang. Là nơi có đá vôi trắng hoặc đen bị xói mòn. Đá loang lổ với nhiều lỗ, màu nhạt hơn Lingbi hoặc Ying Shih.
•    Yingshi or Yingdeshi - Yingde, tỉnh Quảng Đông. Là nơi có đá có bề mặt lún nhún lăn tăn, lô nhô. Là nơi có đá vôi đen bị bào mòn hình đỉnh núi. Đá Ying-shih có màu xám đậm có rãnh.
•    Qilianshi - Núi Qilian, tỉnh Gansu. Là nơi có đá vôi đen.
•    Zhauqingshi - Zhauqing, tỉnh Quảng Đông. Là nơi có đá vôi trắng.
•    Shoushanshi - Shoushan, tỉnh Fujian. Là nơi có đá Talc vàng hoặc silicate vàng một thể của thạch anh. Có ba loại (phân theo nguồn): ở ruộng, sông suối, hoặc núi. Đôi khi phân loại dựa theo màu và những dấu tích bên trong. Changhuashi - Changhua, tỉnh Zheijiang có đá Talc.
•    Huanglashi - Quảng Đông hay tỉnh Quảng Tây. Là nơi có đá sáp vàng được đánh bóng một cách tự nhiên. Thu nhặt được ở lòng sông. Có thể có jasper (biến chất của đá silic – chert hợp với các loại quặng sắt –màu đỏ).
•    Hongheshi – tỉnh Quảng Tây. Thạch anh được tìm thấy ở sông Hồng, tỉnh Giang Tây.
•    Muhuashi – tỉnh Zhejiang. Là nơi có gỗ hóa thạch, cứng và còn đầy đủ những dấu tích của gỗ.
•    Juhuashi – Sông Yung, tỉnh Hunan. Là nơi có đá hoa cúc đại đóa.
II. CÁC ĐÁ KHÁC CỦA TRUNG HOA
•    Dalishi – cẩm thạch.
•    Duanshi – đá duan.
•    Kongqushi – khoáng lông công.
•    Laoshan Lushi – đá xanh Laoshan.
•    Lusongshi - Turquoise.
•    Qixiashi – đá Qixia.
•    Shoushanshi – khoáng talc.
•    Xuanshi – đá Xuan.

Ngoại tuyến

 

#9 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

CÁCH PHÂN LOẠI THEO NGƯỜI TRIỀU TIÊN
Suiseki du nhập vào Triều Tiên và Nhật cùng khoảng thời gian 400 năm trước, và hơn một trăm năm vào phương Tây. Cách phân loại cũng gần giống như cách phân loại của người Nhật.
I. SỰ PHÂN LOẠI THEO HÌNH DÁNG
•    Kyungseok Đá phong cảnh tự nhiên.
•    San-kyungseok Đá có hình dáng núi.
o    Danbong-sanseok Đá có dáng của ngọn núi có một đỉnh.
o    Ssangbong-sanseok Đá có dáng của ngọn núi có 2 đỉnh.
o    Yunsanseok Dãy đá có hình dáng của một ngọn núi có ba hoặc nhiều ngọn núi tượng trưng cho một dãy núi.
o    Wonsanseok Có hình dáng như ngọn núi được nhìn từ xa, tối màu.
o    Keunsanseok Có hình dáng như ngọn núi khi nhìn gần, sáng màu và có thể được ví như ngọn núi wonsanseok.
•    Do-kyunseok Đá có hình dáng như một hòn đảo
•    Hosooseok   Đá có hình cái hồ, một chỗ đất lún được bao quanh bởi phong cảnh rộng lớn.
o    Dhamhyungseok Đá có hình cái ao với chỗ đất lõm được bao quanh bởi phong cảnh nhỏ nhắn.
o    Ongdalsaem Đá có hình suối, dòng suối nhỏ ở cạnh dốc của ngọn núi.
•    Pyunwonseok Đá có hình đồng bằng, được ví như những vùng đất rộng lớn với ngọn núi hoặc đồi ở phía xa.
•    Danseok Đá hình bậc thang, gồm 2 hoặc nhiều bậc thang rộng.
•    Topaseok Đá hình bậc thang, trong đó ta có thể thấy một bên là hình ảnh một ngọn núi phức tạp và bên kia là hình ảnh một vùng đất nhỏ.
•    Pokposeok  Đá hình thác nước giống như những ngọn núi hay những ngọn đồi với các thác nước thường với những tinh thể trắng hoặc đá vôi.
•    Bawikyungseok , Đá có hình dạng một ngọn núi đá, giống như đá trên núi hoặc ở đại dương.
•    Jiphyungseok Đá hình ngôi nhà hoặc túp lều, kiểu dáng thô sơ.( Những ngôi nhà truyền thống hòa nhập với thiên nhiên)
•    Kwantongseok Đá hình hang động với một hoặc nhiều hang động được xem như những điểm nhìn chủ yếu.
•    Cheomahyungseok Đá hình chiếc chòi với phần nhô ra của mái nhà hoặc chòi.
•    Dongkool-hyungseok Đá hình hang động.
•    Hyungsangseok Hyungsan nghĩa là hình dạng của một vật thể, con người hoặc động vật.
o    Inmoolhyungseok Đá có hình người.
o    Dongmoolhyungseok Đá có hình động vật trong thần thoại, các động vật đang sống hoặc không còn nữa.
•    Mooniseok Mooni nghĩa là thiết kế, vẽ hoặc trang trí trên bề mặt.
o    Hwamoonseok Đá trang trí hình các loài hoa.
o    Moonjaseok Đá trang trí có hình dạng của các kí tự với các biểu tượng của người Hàn Quốc hoặc Trung Hoa  được hình thành trên bề mặt đá.
•    Choosangseok  Đá trừu tượng, thường thì loại đá này không giống bất kì một vật thể thông thường nào.
•    Goeseok Kì lạ hoặc kì dị, có hình dạng thẳng đứng với những lỗ thủng hoặc các nếp nhăn.
II. SỰ PHÂN LOẠI THEO NGUỒN GỐC KHAI THÁC
•    Hachunseok (Kaangdol) Đá ở các dòng sông.
•    Haeseok (Badadol) Đá ở biển, có hình dáng đơn giản, được phân ra như choosanseok hoặc mooniseok.
•    Sanseok Đá núi, còn được gọi là sanseok.
III. SỰ PHÂN LOẠI THEO SỰ BIẾN ĐỔI
•    Zayunseok Đá tự nhiên hoặc điều kiện hình thành tự nhiên, chỉ những loại đá đủ tiêu chuẩn như Suseoks.
•    Gagongseok sự biến đổi nhân tạo, như cắt bỏ phần đáy hoặc mài nhẵn bề mặt.

IV. SỰ PHÂN LOẠI THEO HÌNH DẠNG
•    Googapseok Đá “Mai rùa” (Turtle-back), thể vùi màu trắng xen giữa những khoảng cách đều nhau giữa các đường kẻ. Hiếm và quý nên được cho là loại đá may mắn.
•    Golseok (Piadol) Giống như xương của động vật.
•    Baekupzildol Giống như vỏ của quả lê ở Phương Đông.
•    Youngseok Đá vôi, được tìm thấy đầu tiên ở chân núi, thung lũng hoặc trên bề mặt của bờ biển.
•    Pibudol Pibu nghĩa là da hoặc bề mặt thu hút.
V. SỰ PHÂN LOẠI THEO ĐÁNH GIÁ
•    Myungseok Kiệt tác, tác phẩm lớn, mang đến cho người xem một xúc cảm mạnh mẽ.
•    Kaseok Đẹp hoặc chất lượng cao.
•    Suseok Đá Hàn Quốc cổ điển.
VI. PHÂN LOẠI THEO KÍCH THƯỚC
•    Sopumseok Đá nhỏ, nhỏ hơn 15 cm.
•    Pyozunseok Đá thông thường, từ 15 đến 45 cm.
•    Daepumseok Đá to, to hơn 45 cm
•    Zungwonseok Đá vườn, là loại đá to hơn nữa, có thể phải dùng cả hai tay để nâng.
Ở Mỹ
•    Mojave Desert stones California
•    Murphys stones Murphys California
•    Eel River stones Bắc California
Ở Ý
•    Ligurian stones, Ligurian Alps, Italy Đá vôi cứng có thành phần địa chất tương tự ở Furuya-ishi. Tại Ý đá đó được cho là 'Palombini' vì màu xám xanh giống màu chim bồ câu palombo.

Ngoại tuyến

 

#10 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

CHUẨN BỊ SUISEKI
Làm sạch đá:
Sau khi nhặt được, bước đầu tiên là rửa sạch đá. Có nhiều cách làm sạch đơn giản như rửa bằng nước hay xử lý bằng axít (phải chú ý an toàn)
Rửa đá tại nhà bằng nước:
o    Rửa nước bằng máy áp lực.
o    Ngâm trong hỗn hợp xà phòng từ 5 đến 20 phút.
o    Kiểm tra đá, làm sạch bằng bàn chải cước.
o    Nếu nhiều đất bám thì ngâm xà phòng nhiều ngày.
o    Nếu đất dầy quá thì dùng bàn chải sắt hay đồng chà, kiểm tra đá xem có bị xước hay không, rửa lại sau khi chà.
o    Sử dụng bàn chải đảo chiều khi gặp đất quá cứng.
o    Máy rửa loại giống máy khoan. Chắc chắn rằng đó là bề mặt dính đất chứ không sẽ làm tổn hại đến đá.
Rửa đá bằng axít:
Khi sử dụng axít phải nhớ:
o    Không bao giờ đổ nước vào axít đậm đặc.
o    Pha loãng axít bằng cách đổ axít chậm chậm vào nước. Đối với a xít Sunphuarit điều này rất quan trọng, nếu làm ngược lại sẽ rất nguy hiểm. Do vậy, an toàn nhất là cứ đổ axít chậm chậm vào nước.
Làm việc với axít phải luôn nhớ:
o    Chỉ thao tác trong khu vực thoáng khí và đeo mặt nạ có than lọc.
o    Không hít khí và hơi ẩm thoát ra từ axít.
o    Đeo kính bảo hộ.
o    Đeo găng tay chống hóa chất
o    Đeo miếng chống bắn hoá chất
o    Mang tạp dề bằng platic hay cao su.
o    Nếu axít bắn vào mắt thì phải rửa bằng nhiều nước sạch sau đó đến trạm y tế gần nhất.
o    Lưu ý nếu bị văng vào một mắt thì đưa mắt vào vòi nước, mắt bị thương quay xuống đất để nước không chảy qua mắt lành.
Các axít có thể dùng:
Tùy theo chất liệu đá mà ta có thể dùng từ thuốc tẩy đến các axít vàng, đen, đôi khi có thể dùng axít trắng. Chỉ nên dùng axít loãng mà thôi.
Thao tác axít với đá:
o    Sử dụng bàn chải phi kim loại (axít ăn mòn kim loại)
o    Sau khi xử lý bằng axít thì rửa lại đá bằng nước và xà phòng
Xử lý axít thừa:
o    Trung hòa axít dư bằng nước xà phòng. Sử dụng ống đo độ pH để đo nước đó có độ pH là bao nhiêu, nếu dưới 7 thì vẫn còn tính axít. Cho thêm nước xà phòng cho đến khi đo thấy có độ pH lớn hơn hay bằng 7 là được.
Làm khô đá: “giống như miếng bọt biển”
o    Cho dù đá ở thể rắn và không thể thẩm thấu, nhưng khi đá ướt thì giống như miếng bọt biển đẫm nước. Khi khô thì giống như lò nướng, bạn sẽ thấy nó nóng, đá khô sẽ xuất hiện ẩm ướt trở lại sau một thời gian. Vì nó có độ ẩm bên trong. Độ ẩm thoát ra khỏi đá giống như ra khỏi miếng bọt biển nhưng chậm hơn nhiều.
o    Cần phơi khô đá cẩn thận tránh bị nứt nẻ, quá trình này đơn giản nhưng cần chú ý đến sức nóng nhanh có thể gây ra hiện tượng nứt nẻ.
o    Phơi dưới ánh nắng mặt trời nên đặt trên vải coton, cần đảo mặt.
o    Sấy bằng máy sấy tóc, làm lặp đi lặp lại vì hơi ẩm rỉ ra từ đá.
Tạo nước bóng cho suiseki
o    Làm thế nào để có nước bóng. Một suiseki là có nước bóng đẹp, có cảm giác mịn như lụa làm tăng thêm giá trị của đá. Có nhiều cách được áp dụng rộng rãi làm tăng chất lượng đá:
Chà bóng bằng tay:
o    Chà bóng bằng tay mỗi ngày cho đến 30 đến 50 năm…Cho dù nhàm chán, nhưng phương pháp này khá đơn giản, cũng là truyền thống của các nhà sưu tập.
Sử dụng dầu, glycerin, dầu ô liu, dầu em bé :
o    Sử dụng các loại dầu để thoa lên đá sẽ cho một cảm giác mịn màng trên mặt viên đá.
o    Chà xát lên viên đá khô với một trong số những loại dầu trên, nhớ lấp lên các khe nứt.
o    Phơi nắng 3 tháng, tránh độ ẩm và mưa hoặc sương.
o    Chà dầu một lần nữa. Dùng bàn chải đánh răng hay đánh giày để đánh bóng, cần đánh mạnh tay. 
o    Lau cẩn thận bằng vải sạch.
o    Lau bằng mồ hôi người (mồ hôi từ trán, tay).
o    Lặp lại bước 3 và 5 hàng tháng trong một năm.
Sử dụng bột tan:
Bột tan màu trắng và hơi dầu, có thể kết hợp làm bóng với dầu.
o    Theo phương pháp dùng dầu.
o    Sau 1 đến 2 ngày, chà xát với bột tan và đánh bóng.
o    Lặp lại bước chà bột tan sau mỗi tháng.
Làm bóng nhờ thiên nhiên phong hóa:
o    Đá có lớp bóng đẹp tự nhiên là nhờ quá trình phong hóa, ví dụ nước chảy đá mòn đã tạo ra cảm giác mịn màng khi ta rờ tay lên chúng, nếu quá trình này hội đủ những điều kiện cần thiết thì sẽ làm cho mặt đá bóng lên.
o    Đặt đá vào trong thùng chứa đầy nước hoặc phun nước ngọt ( nhỏ giọt)
o    Đặt đá trong khu vực ẩm ướt (như là đặt dưới dàn bonsai) để có độ ẩm cao.

Chăm sóc đá:
o    Một khi đá đã có lớp bóng, bạn cần phải bảo quản nó.
o    Phơi đá thoa dầu mỗi quý.
o    Đá có lớp bóng bằng cách phun nước cần phải được phun nước.
o    Đá trưng ngoài vườn: Vào thời tiết lạnh, gói đá lại, chống rét để đá khỏi nứt.
o    Đá vườn trong khay suiban có nước: vào mùa đông thì úp khay xuống để trong khay không có nước.

Ngoại tuyến

 

#11 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

NĂM YẾU TỐ MỸ THUẬT CỦA SUISEKI

Xin được giới thiệu những quan điểm mỹ thuật trong Suiseki của Ô. Martin Pauli, Ô. Felix G. Rivera, nhà biên soạn sách Suiseki nổi tiếng và Ô. Arishige Matsuura, chủ tịch hiệp hội Nippon Suiseki. Họ cũng đánh giá một tác phẩm Suiseki dựa trên cơ sở nào?

Suiseki là một trong những nghệ thuật đặc biệt nhất của người Nhật, đại diện cho cách nhìn độc đáo về thiên nhiên cũng chính là Suiseki.
Nguyên văn : “One of the most exceptional Japanese arts, representing this unique view of nature, is “suiseki”” Martin Pauli.
 
Suiseki là nghệ thuật diễn tả các hiện tượng thiên nhiên, từ một nơi trong một nước cho đến khắp nơi trên trái đất, chỉ cần sử dụng một viên đá từ vài centimét tới vài chục centimét là có thể diễn tả được cảm xúc đậm đà về một khung cảnh thiên nhiên hữu tình, lột tả được những nỗi niềm trong một nội tâm sâu kín.

Tính nghệ thuật trong thú chơi suiseki bắt đầu với sự tích lũy gởi gấm ý niệm cho đá và tuyệt vời nhất chính là cảm nhận về giao tiếp bằng ngôn ngữ riêng giữa nhà sưu tập với đá. Đá được lấy từ thiên nhiên và đặc biệt là không hề bị bất cứ một tác động hoặc biến đổi nào từ con người (đá bị trầy, nứt, vỡ không do chủ ý của con người cũng không thể coi là suiseki).

Năm nhân tố mỹ thuật để đánh gía suiseki

Một Suiseki được cho là đẹp khi nó hoàn toàn tự nhiên, được gợi hình bằng chính hình dạng tự nhiên của nó, ví dụ như những viên đá thể hiện được hình ảnh của một phong cảnh thiên nhiên (Sansui),một nhân vật hoặc một vật thể (Sugata), một loài vật (Dobutsu). Việc kết hợp này mang đến một trạng thái tinh thần thanh thản và tĩnh lặng trong tâm hồn của người thưởng lãm. Nắm rõ được khái niệm này trong giới hạn nhất định là rất quan trọng để hiểu được năm yếu tố mỹ thuật của Suiseki. Nói cách khác, giá trị thẩm mỹ của đá được chi phối bởi hình thể, chất lượng, màu sắc, kết cấu và sự cổ xưa. Tiêu chuẩn đánh giá cuối cùng của đá là một sự đánh giá toàn diện của những nhân tố khác nhau này, gắn bó và tác động lẫn nhau và với các nhân tố khác.

1.    Nhân tố thứ nhất: Hình dáng
    Đây là nhân tố quan trọng nhất trong việc đánh giá chất lượng tương đối của một Suiseki. Phương pháp thông dụng nhất của việc đánh giá này là ngồi phía trước viên đá và nhìn tập trung vào nó. Bất kì một viên đá nào mang đến một cảm giác không tự nhiên ngay từ cái nhìn đầu tiền đều đuợc coi như không thích hợp. Chúng ta có thể đề cập đến tiếp sau đây về những phương pháp lý tưởng của việc nhìn ngắm một viên đá (phương pháp “thiền” sẽ là cách thức được ưa chuộng khi chiêm ngưỡng một tác phẩm nghệ thuật suiseki)
Mười góc nhìn từ một viên đá
Có người nói rằng khi nhìn một viên đá ở một góc nhìn nào đó sẽ xuất hiện một viên đá mới. Điều này cho thấy cũng cùng một viên đá ta có thể sẽ có nhiều hình dáng khác nhau, và nhờ đó ta có điều kiện để phát hiện ra được một hình dáng mà ta tâm đắc nhất (xem hình), ta thấy:



Hình 1: có dáng núi đôi.
Hình 2: có dáng núi đơn.
Hình 3: có dáng một con thỏ đang nằm.
……
Hình 10:có dáng một con chó con đang đứng.
Ta thấy cứ ở một góc nhìn nhất định sẽ cho một chủ đề nhất định. Cái khó là ở chỗ chủ nhân của nó có thể phát hiện ra, chọn ra được hồn đá dễ gây cảm xúc nhất cho ta và mọi người quanh ta. Một người say mê đá đã từng nói: “Một người đặc biệt nổi bật thì khó tìm thấy nhưng để tìm thấy điểm đặc sắc trong một viên đá còn khó hơn.”

Phương pháp ba mặt 

Đây được coi là phương pháp cơ bản nhất để đánh giá Suiseki. Ba mặt (sanmen) liên quan đến phía truớc-phía sau, bên trái-bên phải, phía dưới của viên đá. Sự cân bằng giữa các mặt khác nhau đuợc coi là cơ sở để chiêm nguỡng và đánh giá một viên đá.

Khi ngắm nhìn một viên đá từ một điểm ưu thế của ba mặt này nên có sự cân bằng giới hạn của khối luợng và hình dáng. Một viên đá nổi bật cũng phải có sự cân bằng về kích cỡ, độ dày và hình dạng của ba mặt. Ví dụ như: một viên đá hình núi thì sự cân đối thể hiện ở chỗ chân núi phải có kích thước lớn hơn nhiều so với đỉnh và phải trải ra các phía, tạo sự vững chắc và tầm nhìn trải rộng. Nếu mặt bên phải của ngọn núi nhô ra thì cũng phải có  sự mở rộng của một số góc độ bên trái. Phần đáy của viên đá được cho là tốt khi nó “ngồi” vững từ điểm chính giữa đến toàn thể viên đá.

Cảm giác không tự nhiên
Nên lưu ý rằng Suiseki tiêu biểu cho một bức tranh lý tưởng của thiên nhiên và nền văn hóa của người Nhật. “Sanmen No Ho”, xã hội người Nhật chỉ vận hành với ba mặt nhưng nó phán xét được tất cả ở sáu khía cạnh. Như Matsuura Arishige nói, phía trước của viên đá là mặt quan trọng nhất của nó bởi với cách trưng bày Tokonoma và bạn chỉ có thể ngồi hay đứng phía trước nó để chiêm ngưỡng. Giống như sự sống của con người thường thể hiện ngay trên gương mặt, người Nhật hiểu rằng một cái cây hoặc một viên đá như là một sinh vật hay “một thực thể sống vô ngôn” nhưng đều thể hiện qua hình dáng, bề mặt của nó.

Trước và Sau nghĩa là cần phải chú ý đến tất cả những vẻ bên ngoài của đá như đường nét hay các đặc điểm chính, độ sâu và nhiều thứ khác nữa. Những đường nhấp nhô trên đỉnh ngọn núi trong vẻ nhẵn mịn và uyển chuyển nhịp nhàng. Những con dốc thấp dần xuống mặt đất một cách mềm mại và chân núi nhô ra về phía người xem. Ở mặt lưng, ngọn núi trông không giống như bị chia cắt, gập  ghềnh và bị uốn cong. Chân núi cũng nhô ra nhưng không nhô ra nhiều như mặt trước.
Bên trái và Bên phải: cũng giống như Trước và Sau, ngọn núi trông hài hòa và phải thật tự nhiên. Phần chân núi sẽ nhô ra ở cả mặt bên trái và mặt bên phải. Liếc nhìn một ngọn núi lý tưởng nhất là nhìn một phần ba từ bên trái hoặc từ bên phải, chủ yếu là thấy được khía cạnh đẹp và quý của nó phù hợp với quy tắc một phần ba nghĩa là đỉnh núi phải nằm cách chân núi bên trái hoặc bên phải một phần ba chiều dài chân núi (còn gọi là tỉ lệ vàng - xem phần tỉ lệ vàng).

Trên và Dưới: Nhìn từ trên đỉnh, viên đá cong một ít về hướng người xem, giống như bonsai. Khu vực ở giữa sẽ sâu hơn phần dưới cùng của nó. Phần đáy của viên đá sẽ có thể nhiều hơn hoặc ít hơn - bằng phẳng, tự nhiên, không bị đứt đoạn.

Độ dày và Hình dáng
Độ dày: Một viên đá có thể mỏng, nhẹ và thanh mảnh nhưng phải đứng vững. Khi đặt viên đá vào suiban ta sẽ thấy ngay chỗ cần sửa, mặt đáy của viên đá phải chạm kín mặt cát.
Cát có thể lấy ở trong hồ hoặc ở đại dương và có màu vàng ngà là lý tưởng. Khay cát không nhất thiết phải cạn. Cũng có những khay cát sâu dùng cho các viên đá có phần chân không bằng phẳng. Nhưng kích cỡ của khay phải luôn hài hòa cân đối với kích cỡ của đá.

2.    Nhân tố thứ hai: Chất (shitsu)
Về chất của đá cũng như suiseki, viên đá phải đủ độ cứng và nặng để không thể biến đổi chất lượng nhanh chóng và không có nguy cơ bị hư hỏng. Rêu rất dễ mọc trên đá mềm để hút nước.
Mặt khác, nếu viên đá quá cứng sẽ thiếu đi yếu tố đặc biệt tạo vẻ đẹp và sức cuốn hút trái tim ta vì khi đá quá cứng sự ăn mòn xâm thực của thiên nhiên sẽ diễn ra quá chậm và chắc chắn sẽ khó tạo những đường nét kiều diễm. Nói cách khác, Suiseki nên có độ cứng vừa phải (5 Mohs-là độ cứng tương đối do nhà địa chất người Áo phát minh).

Một viên đá có khả năng hấp thụ nước kém, nó vẫn có thể cải thiện khả năng đó bằng cách “tập luyện” qua thời gian dài. Để chuẩn bị đá, người ta thường đặt chúng trên kệ bonsai hoặc ở khu vực nhiều nắng của khu vườn và tưới nước lên chúng mỗi ngày (ở Châu Âu cho nước chảy nhỏ giọt là tốt nhất). Vị trí của viên đá cũng nên thay đổi mỗi tháng một lần. Tuy nhiên, khi phơi đá dưới ánh nắng mặt trời chỉ áp dụng giới hạn với một số đá mà thôi, điều mà chỉ được dùng đối với suiban. Đá được trưng bày trên bệ daiza, thì phương pháp đặt ngoài trời là không thích hợp. Trong trường hợp này, viên đá được giữ trong nhà và được lau với vải bông khô mềm thường xuyên.

3.    Nhân tố thứ ba: Sắc (iro)
Điều quan trọng trong trường hợp này là sắc màu của đá sao mà không được gợi lên cảm giác về sự kì kị hay không tự nhiên. Ngoại trừ trường hợp nó gợi nhớ đến một cảm xúc về phong cảnh thiên nhiên đặc biệt nào đó. Trong thế giới của suiseki, chân giá trị và sự tĩnh lặng của đá là đặc biệt quan trọng. Điều đó nghĩa là suiseki phải rắn, có màu tối, sẫm tối để tạo cảm giác sâu lắng sẽ được đánh giá cao.
Một viên đá màu đen, gây ra một cảm giác tinh tế, vị giác thì mượt mà, tinh thần sâu thẳm được như thế thì coi như là lý tưởng với tinh thần “thiền”. Đá màu đen từ Kamogawa (Kamo_river) đuợc xếp vào loại tốt nhất về mặt này. Tuy nhiên, những người am hiểu về đá cũng đánh giá các đá Kurama với màu nâu đen của chúng gần như màu sắt rỉ. Kế đến là những loại đá có màu tối đẹp như xanh đen hay đen xám. Ở nước ta đá có màu đen huyền (Basalt) ở Lâm Đồng, Bình Thuận được xem là lý tưởng.
Màu sắc còn là biểu tượng cho các mùa trong năm. Ví dụ như màu nâu gỉ của Kurama-ishi đại diện cho mùa hè thu. Khi cây thích của Nhật trên đỉnh núi “ra hoa” (sakari), trở thành màu đỏ rực. Có rất nhiều màu sắc đặc trưng khác được thưởng thức bởi những người yêu suiseki: màu đỏ son (Beni) được tìm thấy ở đá từ con sông Kamo (Kamogawa). Chúng được biết đến với cái tên Kamogawa-beni-nagashi-ishi. Người ta cho rằng đây là màu dùng để trang điểm của những quý bà trong cung đình suốt thời kỳ Heian.


4.    Nhân tố thứ tư: Kiến trúc _ Khí (hada-ai)
Kiến trúc thể hiện “khí” trong suiseki. Kiến trúc của đá có thể là mịn màng hoặc gồ ghề, nhưng phải hòa hợp. Kiến trúc tạo ra hồ, sông băng và những cánh đồng hoa trên một suiseki. Suiseki có kiến trúc mạnh thường được đánh giá cao. Càng nhiều các kiến trúc trên suiseki thì nó càng có tính mỹ thuật cao.
Đá tự nhiên được chùi rửa, bào mòn bởi sự chuyển động của nước từ các con sông và đại dương, hình thành nên kết cấu có một không hai trên bề mặt, loại này gọi là “haida-ai” trong thế giới suiseki (hiện tượng bào mòn phần đá mềm hơn là lộ ra phần đá cứng hơn nhờ đó tạo sự gồ ghề). Phần nào chống xói mòn được gọi là “hame”. Phần mềm hơn bị mòn bởi gió bão thì gọi là “hadame”. Vùng mà hadame được chạm khắc với độ sâu đặc biệt được gọi là “shin” xương của đá.
Cũng có từ đặc biệt để diễn tả những điểm đặc trưng của cấu trúc.Ví dụ như “jagure” là từ thường được sử dụng để mô tả những vết lõm, vết răng cưa không đều và chỗ lồi ra trên bề mặt.
“Sudachi” liên quan đến nhiều cấu trúc đặc trưng phức tạp như những lỗ tròn đường kính một đến hai li.
Những hạt gạo (beiten-moyo) nói đến những phần nhô ra nhỏ của hình dáng và kích cỡ hạ gạo.
Từ “shunn” nói đến những bề mặt có nếp gấp. Cấu trúc như vậy thường được thấy ở đá Furuya. Một từ đồng nghĩa dùng để diễn tả những nếp gấp phức tạp trên bề mặt đá là nếp gấp “wrinkles” (xem hình).


Một kết cấu mạch thạch anh trên bề mặt đá màu nâu hình thành nên những đường ngang dọc không đều nhau gọi là mạch “itokake” hay “itomaki”. Ở nước ta đá có mạch thạch anh tạo thành vân thạch thì phải kể đến vùng miền Trung tại Quảng Nam, Quảng Ngãi (khu vực biến chất mạnh).


Bề mặt da quả lê (richi-hada) ám chỉ vô số những vết nhỏ trên bề mặt giống như da của một quả lê. Sau đó “ryugan” mắt rồng ám chỉ những điểm nhỏ trông giống như mạch thạch anh và đá vôi trong những loại đá chủ yếu thường được tìm thấy ở những khu vực như thác nước.
   
Một dạng khác là đá mà phần mềm hơn có hình dạng hoa cúc rơi mà ở trung tâm có các cánh hoa ló ra. Thuật ngữ “sabahana” nói lên đá có hình dạng bông hoa cúc.




Vài kết cấu duy nhất
Theo người ta nói thì nước ở các con sông tạo ra bề mặt đẹp nhất cho đá. Các loại đá như vậy đuợc gọi là “sawa ishi”. Chỉ có vài nơi ở đáy đại dương nơi mà những viên đá đẹp nhất được tìm thấy và gọi là “kobi ishi”. Sawa-ishi và kobi-ishi thường có sức hấp dẫn hơn và có bề mặt trơn láng hơn các loại đá được tìm thấy trên núi. Một vài nơi trên núi được biết đến như những nơi có thể tìm thấy những viên đá đẹp ví dụ như núi Furuya-ishi và Seigaku-ishi. Các viên đá đuợc tìm được trên núi được gọi là “yama-ishi”. Cũng có các viên đá tìm được trong hang động được gọi là “do-ishi”. Ở nước ta vùng Di Linh có đá núi số 16 có hình dáng lồi lõm, lỗ chỗ.
5.    Nhân tố thứ 5: Tuổi đá _ Cổ
Khi ta nhìn một viên đá cổ màu tối đặt trên suiban cổ, nó sẽ gây cho ta một ấn tượng về độ tuổi của đá mà ta sẽ không bao giờ cảm nhận được ở một viên đá còn ít tuổi.
Dòng chảy của con sông sẽ bào mòn và tạo hình cho đá, nhưng sẽ không can thiệp quá nhiều để làm tăng thêm sự mềm mại và kết thúc hoàn hảo mà yoseki tạo ra. Quá trình hình thành yoseki, bất kể như  thế nào, là một quá trình mất thời gian đáng kể. Giống như bonsai, kết quả tốt không nhanh đến, nhưng tốt hơn là qua sự chăm sóc bền bỉ và kiên nhẫn của con người. Yoseki khi được làm ở Nhật Bản bắt đầu bằng cách đặt suiseki ngoài trời trên kệ làm bằng gỗ và tưới nước thường xuyên đúng như bạn chăm sóc bonsai. Tình trạng ướt và khô không thay đổi, cùng với việc phơi dưới mặt trời và các yếu tố khác, sẽ bắt đầu làm lộ ra tính chất cần thiết và độ lóng lánh của đá sẽ xuất hiện.
Tóm lại, trong quyển sách “Giới thiệu về vẻ đẹp của Suiseki” của Arishige Matsuura, vị chủ tịch của Hiệp hội Nippon Suiseki đã cô đọng năm yếu tố chính là Hình, Chất, Sắc, Khí, Cổ để đánh giá một suiseki tốt:
Về Hình
Khi ngắm nhìn một viên đá người xem được gợi nhớ về một điều gì đó trong tự nhiên, đặc biệt là một phong cảnh hoặc một hình thái thiên nhiên khác. Ông Etsuji Yoshimura sáng tác quyển “Quy tắc ba mặt” để đánh giá hình dạng: trước và sau, trái và phải, trên và dưới. Nhìn từ bất kì góc độ nào, một suiseki lý tưởng sẽ phải duy trì đuợc một sự cân đối và hài hòa giữa các mặt với nhau.

Về Chất
Một suiseki đẹp phải là một viên đá có chất liệu không dễ dàng bị phá hủy hay biến đổi. Nó cần phải cứng thường là 5 (theo thang độ cứng tương đối của Mohs) và nặng, còn phải cho một cảm giác êm đềm của sự tĩnh lặng. Chất liệu có chất lượng tốt cũng phải giữ được ẩm, cảm giác ẩm ướt kéo dài khi rưới nước.

Về Sắc
Mặc dù tất cả các màu hài hòa với tự nhiên đều được chấp nhận, nhưng màu tối và dịu nói chung sẽ được thích hơn. Đặc biệt ở Nhật Bản, maguro, hay một màu đen đậm, được coi là lý tưởng. Màu xám đen (haiguro), và màu xanh đen đậm (aoguro) thì cũng rất được quan tâm.

Về Khí
Kết cấu bề mặt của đá ban đầu được tạo thành bởi thiên nhiên, và sau đó được chăm chút bởi quá trình làm cũ do con người (yoseki). Một vài kết cấu được ao ước thường được tìm thấy ở suiseki Nhật Bản như là itomaki : Đây là một kết cấu được tạo ra bởi mạch thạch anh chạy trên bề mặt đá cát kết màu xám; shunn là những vết hằn sâu.

Về Cổ
Đặc tính suiseki có hình dáng đẹp, chất liệu tốt, có màu sắc đẹp, cấu trúc tốt, và cuối cùng là sự xuất hiện lâu năm. Tuổi của lớp bóng được hình thành bởi cả thiên nhiên và quá trình làm cũ do con người (yoseki).

Ngoại tuyến

 

#12 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

THƯỞNG NGOẠN SUISEKI
Chỉ có những người thưởng ngoạn suiseki có độ nhạy cảm tinh tế mới nhận ra dưới lớp bóng đẹp của sắc màu, dưới bề mặt gồ ghề cằn cỗi, sự tao nhã khó nhận biết của hình thể đá nói lên điều gì? Đôi khi chính từ đó, từ chính sự cằn cỗi của lớp da đó đã bộc lộ những ẩn ý trong sự suy tư trầm lắng của chủ nhân. Kết hợp với những yếu tố khác chúng sẽ giúp ta phân biệt rõ ràng giữa một đá cảnh suiseki tuyệt vời với một viên đá tầm thường.Vẻ đẹp của một suiseki tuyệt tác thường nằm khiêm tốn bên dưới bề mặt của nó mà chỉ có một con mắt tinh tường mới khám phá được.
Một suiseki không có gì khác hơn là một cục đá. Chúng ta không thể trông mong cảm nhận được ngay tức thì sự chuyển động của tự nhiên trong đá mà hãy để cho tâm hồn ta hòa quyện vào trong thế giới đó. Nếu có thứ gì đó hấp dẫn bạn qua việc ngắm nhìn viên đá thì điều đó cũng đủ để phát triển trong bạn sự yêu thích giành cho suiseki. Yêu thích suiseki tác động sâu sắc tới sự phát triển tâm hồn của cá nhân mỗi người.
Khi trưng bày suiseki theo kiểu “tokonoma kazari”, điều đó có thể nói lên được sở thích và kĩ năng của chủ nhân. Khi một người nhìn ngắm suiseki có thể nói lên người đó đang nghĩ gì và cho ta biết về thế giới mà người đó đang bước vào. Những người có sở thích giống nhau sẽ có cùng một cảm giác và thích thú khi ngắm suiseki kazari. Nói cách khác, để diễn tả được đá “kazari” đòi hỏi một kiến thức sâu sắc và học hỏi ở vài lĩnh vực như thi ca, văn học, tranh cuộn, chủ nghĩa tượng trưng và miêu tả. Điều này giải thích được vì sao niềm đam mê suiseki được mở rộng vào cả nơi sâu kín của tâm hồn con người.
Tuy nhiên, cũng không cần xem suiseki như một niềm yêu thích đòi hỏi thật cao độ. Ta có thể bắt đầu đơn giản bằng cách tìm một viên đá và rồi nó gợi lên được vài hình dáng như của một ngọn núi, phong cảnh được đặt  trong một khay nước hay trên một đế gỗ để thưởng thức hay đúng hơn là chỉ cần một viên đá trần, ta có thể để cho trí tưởng tượng chắp cánh và chìm đắm trong thiên nhiên hư ảo. Yêu thích suiseki sẽ làm phát triển cảm giác hài hòa với sự giàu có về tâm hồn, cái mà có thể chính là nguồn năng lượng cho những công việc hàng ngày. Hãy tận dụng cơ hội  để phát triển niềm đam mê này.

TỈ LỆ VÀNG


Nguyên tắc tỉ lệ vàng được ứng dụng rộng rãi không chỉ trong nghệ thuật nói chung nghệ thuật suiseki nói riêng mà cả trong các ngành kiến trúc, xây dựng…Do đây là nguyên tắc quan trọng nên chúng tôi đề cập thêm:
Giống như những đồ vật xinh đẹp khác, trong nghệ thuật cần chú trọng hơn hết về tỉ lệ sao cho hợp với mắt người xem.
Johannes – Kepler (1571-1630) có nói: “Trong hình học có hai kho báu, một là định lý Pitago, hai là chia đường thẳng thành tỉ lệ cực đại và trung bình. Định lý Pitago có thể sánh như thước vàng, còn tỉ lệ vàng thì có thể được đặt tên một loại trang sức quý” 


Eudid cho thấy một đường thẳng được chia tỉ lệ thành phần lớn và trung bình hay còn được gọi là “tìm tỉ lệ vàng của điểm G cắt trên đoạn thẳng”. Eudid đã dùng cụm từ đó để chỉ tỉ lệ của phần nhỏ hơn của đoạn thẳng GB với phần lớn hơn AG (có tỉ lệ GB/AG) bằng với tỉ lệ của phần lơn hơn AG so với cả đoạn thẳng AB.
Ta có: GB/AG = AG/AB.
Tam giác vàng có thể thấy trong nhiều đá suiseki, đó là tỉ lệ hợp lý, không quá dày, không quá mỏng, mà chỉ có đúng mà thôi.

Được sử dụng rộng rãi bởi người Hy lạp cổ xưa trong kiến trúc, tam giác vàng được đại diện cho toán học và hữu dụng trong nhiều lĩnh vực. Những tam giác nhỏ trong cùng một hình ảnh để có tam giác lớn và chúng rất cân xứng.

TRƯNG BÀY SUISEKI

Một trong số những khía cạnh quan trọng nhất của suiseki là chăm chút kỹ lưỡng cho việc trưng bày đá. Sử dụng mọi thứ có thể để việc trưng bày đạt hiệu quả tốt nhất. Các vật dụng giúp trưng bày không nên quá mức vì có thể làm giảm giá trị của đá. Có hai cách trưng bày truyền thống thông dụng nhất là trên Daiza va Suiban. Nhưng trước tiên xin được đề cập đến thiết kế chung cho khu vực trưng bày:
Thiết kế tổng thể:

Khi thiết kế để tạo ra khu vực bày biện thì cần xem xét và cân nhắc cẩn thận các vấn đề sau:
o    Trưng bày tôn vinh chủ đề chính.
o    Đặt chủ đề chính ở vị trí cao để nhấn mạnh chủ đề.
o    Các vật thể phụ đặt ở độ cao thấp hơn.
o    Giữ số lượng vật thể ở mức tối thiểu, thường là ba.
o    Màu:
    Màu của giá, kệ và các vật thể nên bổ sung cho chủ đề chính.
    Suiseki có màu tím đậm thường được trưng bày với màu xanh lục, đỏ, vàng, đen, nâu xám, hoặc màu dịu.
    Để tăng thu hút sử dụng với màu tương phản.
o    Kích cỡ, hình dạng, độ cao.
    Thay đổi hình dáng, kích cỡ, chiều cao của những vật thể.
    Suiseki mịn màng thì sử dụng cùng vật thể thanh tú.
    Thay đổi chiều nghiêng, dốc, khoảng cách giữa các vật thể.
o    Tương quan về không gian:
    Tạo không gian rộng rãi giữa các vật thể với gờ của tokonoma hoặc kệ trưng bày.
    Tạo không gian hợp lý giữa các vật thể.
    Tạo không gian hợp lý giữa đáy của tranh cuộn và đỉnh của vật thể.
    Theo truyền thống, chủ đề chính đặt lệch tâm, một phần ba tính từ cái gờ của kệ trưng bày.
    Theo cách truyền thống, nên đặt chủ đề chính lệch tâm, về phía sau một chút xíu so với đường trục tưởng tượng ngang chính giữa.
    Nếu trưng hai chủ đề thì đặt cái này sau cái kia.
    Nếu trưng ba chủ đề thì đặt chúng theo hình tam giác mà không đối xứng.
    Đỉnh cao nhất của mỗi chủ đề tạo hình tam giác với chủ đề chính là cao nhất.
    Phần đầu của tranh cuộn và gờ của kệ hay khu vực trưng bày có thể tạo hình tam giác.
Kết hợp các vật thể trưng bày:
Cần xem xét kết hợp các vật thể trưng bày sao cho đúng nghi thức. Ba mức nghi thức: Trang trọng (shin); bán trang trọng (gyo), và thông dụng (so)
Nghi thức trang trọng (shin):
Thẳng đứng, đúng mực , đối xứng.
Phù hợp nhất là núi xa (suiseki cổ).
Kệ, hộp và các vật thể khác phải trang trọng.
Kệ, hộp và các vật thể khác phải có màu sắc dịu.
Nghi thức trưng bày Tokonoma: là điển hình cho nghi thức trang trọng
Suiseki thường được trưng bày theo kiểu Tokonoma, một kiểu trưng bày theo nghi thức trang trọng truyền thống của Nhật mà ở đó người ta chọn một góc nhà có chiều sâu 0,75m, rộng 1,5m đến 2,1m, có độ cao 10cm so với mặt đất, bề mặt góc có phiến gỗ đã được làm bóng hoặc tatami, đặt suiseki trên bàn shoku (bàn gỗ nhỏ theo kiểu truyền thống của Nhật) hoặc trên thảm, chiếu, sao cho hấp dẫn người xem, phía sau trên tường có treo một bức tranh cuộn. Trưng bày cùng với tranh cuộn Nhật Bản, cây Bonsai, hoa, cỏ, đồ gốm xinh đẹp, bát nhang. Riêng tranh cuộn Nhật Bản được treo trên tường phía sau suiseki, tranh mô tả hoặc thơ liên quan đến tới suiseki và các vật thể khác không quá ba, các vật thể phải hòa hợp với hiệu ứng êm ái và giản đơn; nó cũng nên hợp theo mùa. Ngày nay, tranh vẽ hoặc chụp cũng có thể được sử dụng thay cho tranh truyền thống.
Ngoài ra, người phương Tây còn dùng nhạc và ánh sáng để tạo không khí hấp dẫn.







Nghi thức bán trang trọng (gyo):
Nằm ngang, không đối xứng, đường cong .
Phù hợp nhất là bình nguyên, đá dốc.
Các vật thể có đường cong và đường viền mượt.
Kệ, hộp có hình tròn hay ovan.
Bình thường
Nằm ngang, không đối xứng, không đều, thanh nhã, mềm.
Phù hợp nhất là hồ nước, nhà tranh, kiểu thức ảnh, đồi, núi xa.
Các vật thể đặt cạnh cỏ lùn:như cây cối nhỏ xinh, cánh đồng hoang, tre trúc.
Trưng đá có tính vui đùa, hóm hỉnh, khôi hài.
Các vật thể có thể phức tạp, màu sắc rực rỡ hay đơn giản.
Trưng bày suiseki theo mùa:
Tùy theo từng mùa trong năm mà ta có cách trưng bày như sau:
o    Trưng vào mùa đông:
    Cầu phúc cho năm mới được đại diện bởi màu sắc, vật thể hay vân thạch, kết hợp với tranh cuộn hoặc cây gọi là: “ba người bạn của mùa đông” – Hoa mận, thông và tre.
    Hoa mận của Nhật biểu tượng cho sự can đảm và thanh tao: xuất hiện khi mặt đất bao phủ tuyết.
    Cây thông biểu tượng trường thọ: xanh quanh năm, bám chắc trên đồi núi.
    Tre biểu tượng sức mạnh và sự nhẫn nại: linh hoạt và dẻo dai.
o    Trưng vào mùa xuân:
    Hoa mận, cây đậu tía, cây đầu xuân, hoa anh đào.
o    Trưng vào cuối xuân: cây đỗ quyên, cây iris, hoa mẫu đơn.
o    Trưng vào mùa hè : Hoa sen, bụi cỏ ba lá, cây liễu, lựu, cỏ xanh, thác đổ, hồ trên núi..
o    Trưng vào Muà thu: Hoa cúc, cây hồng vàng, quả mọng, cỏ bông bạc, lá thích đỏ, gặt lúa đêm trăng.
Daiza: (phát âm là dai za) .Kệ Daiza (hoặc dai) là một phiến gỗ được khắc dựa theo mặt đáy của viên đá, ôm sát mép gờ đáy của viên đá. Nghệ thuật khắc đòi hỏi kỹ năng tốt và phải chú ý đến từng chi tiết trên mép gờ của đáy viên đá sao cho đế gỗ ôm sát từng chi tiết. Cần học các bước để tạo ra kệ đẹp (xem phần các bước làm kệ Daiza).


Cách làm đế gỗ Daiza:
Phải chọn tấm gỗ có độ dày, chất liệu gỗ phù hợp, chỉ dùng gỗ đậm màu, tấm gỗ vừa rộng hơn viên đá. Đặt phần đáy viên đá lên tấm gỗ hình chữ nhật. Dùng bút chì đánh dấu lên gỗ (nơi mà mép chân đá tiếp xúc với mặt gỗ).
 
Khoét lỗ giữ viên đá: bỏ viên đá ra và vẽ một đường khác khoảng 0,5cm vào phía bên trong đường vẽ đầu tiên. Dùng máy soi bào phay bỏ phần bên trong với độ sâu cần thiết, độ sâu này sẽ tùy thuộc vào chiều cao của viên đá để viên đá có thể đứng vững trên đế gỗ, nếu viên đá cao mà chiều sâu thấp sẽ không giữ vững được viên đá. Dùng máy bào tinh để gọt sát phần gỗ và tiến sát đến đường vẽ đầu tiên. Tiếp tục lập lại việc xoi bào và kiểm tra xem đá có vừa với khe gỗ vừa khoét chưa, tiếp tục bào cho đến khi vừa khít. Việc này được coi là làm tốt khi viên đá vừa khít với đế gỗ và đế gỗ có thể giữ cho đá đứng vững trên nó.
Làm đường viền trang trí: sau khi vừa khít viên đá, lấy viên đá ra dùng compa mở ra khoảng 3,2 đến 6,3 ly (tùy theo kích thước viên đá mà tăng giảm),vẽ ra phía ngoài của đường vẽ đầu tiên để làm đường viền trang trí. Dùng máy xoi hạ mặt phẳng xuống từ 3,2 đến 5 ly sẽ làm nổi đường viền trang trí lên.
 
Định hình khung bên ngoài: dùng compa mở ra khoảng 1cm đến …(xem thêm bảng 1 để biết tỉ lệ chiều dày mép gỗ). Dùng cưa lọng cưa bỏ phần ngoài. Tốt nhất đường cưa phải thẳng hoặc hơi nghiêng nhẹ vào trong tạo dốc cho mép gỗ. Trên nhỏ dưới lớn.
 
Làm chân cho phần đế: lật ngửa mặt dưới lên, kẹp chắc chắn vào êto, đánh dấu phần chân cần giữ lại. Kích thước chân sẽ linh động theo (bảng 2) dùng máy xoi bào tốc độ nhanh phay bỏ phần gỗ không cần thiết.
Hoàn tất : đánh giấy nhám thô đến mịn để làm láng bề mặt gỗ. Tạo độ cong nhẹ ở các mép gỗ. Khi tạo dáng cho đế gỗ cần làm cho để có đường nét thật mềm mại, đánh vécni màu đen, nâu, nâu đỏ, hay vécni không màu.
Bảng 1: Tỉ lệ của đá so với chiều dày của mép gỗ tính từ đường đá và gỗ tiếp xúc nhau
Chiều dài của suiseki    Chiều dày của mép gỗ (tính từ ngoài vào)
Chiều dài tới 15cm    Có thể dày từ 1 đến 2 cm
Chiều dài tới 25cm    Có thể dày từ 2,5 đến 4 cm
Chiều dài tới 35cm    Có thể dày từ 4,5 đến 5 cm
Chiều dài tới 50cm    Có thể dày từ 5 đến 6,5 cm
Bảng 2: Tỉ lệ các chiều của phần chân của chân đế
Chiều dài của suiseki    Chiều rộng của chân    Chiều sâu của chân (tính từ ngoài vào)
Chiều dài tới 15cm    đến 15 ly    đến 9 ly
Chiều dài tới 25cm    đến 20 ly    đến 14 ly
Chiều dài tới 35cm    đến 30 ly    đến 17 ly
Chiều dài tới 50cm    đến 37,5 ly    đến 19 ly

Suiban và Doban:
Suiban và Doban là những khay hình ovan hoặc tam giác để bày suiseki. Suiseki mịn và mỏng manh rất thích hợp để bày trong suiban và doban, khay ovan sâu hơn với gờ nhỏ hoặc không gờ và không chân. Suiseki gồ ghề lởm chởm và lớn thì thích hợp với khay được trang trí công phu.


Kiểu khay:
o    Có chân ngắn
o    Khay có hình tam giác hay ovan.
o    Làm bằng đất nung, tráng men hoặc thô.
o    Khay kim loại (gọi là “doban” và thường bằng đồng).
Khay có màu yêu thích:
o    Nên có màu dịu (đặc biệt là màu xám tro).
o    Màu tùng lam, màu nhạt nhẹ.
Cỡ khay phổ biến:
o    Dài 40 đến 45cm; rộng 25 tới 32,5cm.
o    Tỉ lệ cao so với đá
o    Suiban có kích cỡ bằng hai lần chiều dài của suiseki.
o    Khay quá lớn có thể thể thêm vật trang trí thu nhỏ như: nhà tranh, thuyền buồm, người…
Các thứ bỏ vào khay cùng với suiseki:
o    Cát hoặc nước.
o    Mức cao của nước trên mức cát: 2,5cm.
o    Cát nên cào phẳng, cào phẳng bằng lông chải, lắc lắc khay cho cát bang ra…
o    Nên dùng cát đã sàng và rửa sạch.
o    Cát mịn dùng với đá nhỏ.
o    Hạt cát thô dùng với đá lớn.
o    Cát có màu be (màu trắng thì quá sáng).
o    Kiến trúc của đá tùy vào đá chủ.
Vị trí thích hợp:
o    Nên chôn đá để cố định đá không làm lộ khe hở giữa đá và cát.
o    Nên đặt đá lệch tâm, về phía sau một chút xíu so với đường trục ngang tưởng tượng chạy xuyên giữa khay.
o    Nằm ở khoảng 62,5% về phía trái hay phải của khay. Hoặc dựa vào tỉ lệ vàng.


Lúc này đỉnh núi nằm ở điểm G, xem chiều dài AB là chiều dài của Suiban, giả dụ nếu AB = 8, thì BG = 3; và AG = 5. Theo tỉ lệ này đặt đỉnh núi ở vị trí G đã đánh dấu. Tượng tự nếu AB là chiều ngang (điểm A nằm ở mặt trước, B mặt sau) AB = 8, thì BG = 3; và AG = 5.
o    Đỉnh cao nhất nằm bên trái của đá thì đặt đá vào bên trái của khay hoặc ngược lại.
o    Hầu hết suiseki nghiêng về hướng người xem.

Các vật trang trí thu nhỏ kèm theo:
o    Dù các vật trang trí thu nhỏ là không sử dụng thường xuyên nhưng ta có thể chọn sao cho thật phù hợp, cân xứng với suiseki và khay.
o    Thường là : ngựa, thuyền, cây cầu, thú, người.
o    Cân đối theo tỉ lệ với khung cảnh và với đá.
o    Chất lượng tốt (làm bằng đồng, thau).
o    Không làm giới hạn tính thiên nhiên của đá.
Bàn trưng bày Shoku:
Kiểu bàn trưng bày của Nhật gọi là shoku, thường được sử dụng kết hợp với các vật trưng bày khác như daiza hay suiban. Tốt nhất thì bàn phải được làm bằng gỗ tốt, được đánh bóng với chi tiết chạm đơn giản, có chân thẳng.
o    Đặt nằm ở giữa hộp, cách cạnh hộp 5 đến 10cm.
o    Chiều cao của bàn quyết định bởi chiều cao và hình dáng của chủ đề. Khoảng một hoặc một phần hai chiều cao của chủ đề.
o    Suiseki quá cao thì nên để trên bàn thấp mới chắc chắn.
o    Hình dáng bàn cần phù hợp với hình dáng của chủ đề và hộp.
o    Kiểu của bàn gắn liền với kiểu chủ đề.
o    Chủ đề nặng nề thì bàn cũng phải nặng nề, gồ ghề.
o    Chủ đề nhẹ thì bàn cũng phải mảnh mai.
o    Bảo vệ bàn bằng kính, chiếu, vải, miếng lót nylon trong hay có màu nhẹ.
Trưng bày trên bàn cao và hơi cao:
o    Núi, thác nước, các chủ đề ở chiều đứng.
Trưng bày trên bàn thấp đến trung bình:
o    Bình nguyên, đá dốc, bonsai nghiêng về một phía, các chủ đề nghiêng.
Trưng bày trên bàn thấp:
o    Đá bờ biển, đá đảo, hồ trên núi và các chủ đề nằm ngang.
Trưng bày trên các loại khác:
Có thể đặt khu vực trưng bày ở bất cứ vị trí nào trong nhà nhưng nên theo bản sắc văn hóa, ví dụ theo kiểu phương Tây thì suiseki thường đặt trên bất cứ đâu hơn là trên bàn hay kệ.
Khu vực trưng bày:
o    Thường cao cách đất ít nhất 50cm.
o    Ánh sáng chiếu phía trước hoặc trên đầu để tránh đổ bóng.
Phông trưng bày:
o    Vách tường bằng phẳng trắng nhạt, hay màu be.
o    Nếu có mành làm phông, thì mành không có hình ảnh, mà có màu trắng nhạt, màu be, xám, vàng hoặc màu bạc.
o    Hoặc để bình phong làm phông.
Bằng gỗ
o    Gỗ đẹp thường được ưa chuộng như gỗ thông, sary, cây độc cần.
o    Bản dày từ 1cm đến 2,5cm. Đốt nhẹ cho có màu gỗ cháy nhẹ.
o    Hay chà bằng bàn chải.
o    Đánh véc ni trong.
Kệ để đá và chủ đề cao dưới 15cm:
o    Sử dụng kệ với các tầng so le nhau.
o    Sắp xếp chủ đề theo nhóm.
o    Giữ chủ đề đặt ở vị trí phù hợp với nơi xuất xứ trong tự nhiên.
o    Sử dụng cho kệ cao hơn: Đá núi xa.
Nếu kệ thấp thì dùng trưng bày:
o    Thác đổ
o    Đảo
o    Bờ biển
o    Nhà tranh

Ngoại tuyến

 

#13 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

CHÚ GIẢI THUẬT NGỮ
Aiseki: đá giá trị.
Aka-ishi: đá màu đỏ. Một loại đá của Nhật phân loại theo màu sắc hơn hình dáng.
Bako : hộp đựng, bảo quản, vận chuyển suiseki.
Bonseki: Nghệ thuật tranh vẽ trắng đen.
Chusho-seki: đá có bề mặt trừu tượng.
Dai  : cái đế làm bằng gỗ
Daiza: đế làm bằng gỗ nhưng ôm sát hình dạng đá
Doban : khay bằng kim loại thường là đồng không có lỗ
Hagata-ishi: bề mặt đá có hình chiếc lá.
Hanagata-ishi: bề mặt đá có hình hoa.
Hashi-ishi: bề mặt đá có hình cây cầu.
Higata-ishi: bề mặt đá có hình mặt trời.
Hoshigata-ishi: bề mặt đá có hình ngôi sao.
Hyojun suiseki: Một suiseki trung bình khoảng 30 đến 60 cm. Được xem là tiêu chuẩn.
Kiri bako : là loại dùng để đựng đá và khay của nó – theo truyền thống nó được làm bằng loại gỗ nhẹ và chống ẩm.
Katachi: Hình dáng.
Kawa-ishi: Đá tìm thấy ở gần sông.
Kawazure: Kiến trúc mịn màng do phong hóa.
Kibune-ishi: Đá tìm thấy ở Kibune, Nhật.
Kigata-ishi: bề mặt đá có hình cây.
Kikka-seki, Kikumon-seki, Kiku-ishi: bề mặt đá có hình hoa cúc.
Kinko-seki: đá có màu vàng-đỏ. Một loại đá của Nhật phân loại theo màu hơn là hình dáng. Thường được dùng chung với một hoặc nhiều cách phân loại khác.
Kinzan-seki: Núi gần với kiến trúc chi tiết.
Kogata suiseki: suiseki nhỏ chừng 15 đến 30 cm. (xem Ogata, Hyojun, và Mame).
Koshoku: sự già cỗi của bề mặt đá; có liên quan đến yoseki và mochikomi.
Kurama-ishi: Đá tìm thấy ở Kurama, Nhật.
Ibigawa-ishi: đá được tìm thấy trong và xung quanh sông Ibigawa.
Ishi : đá
Mame suiseki: một suiseki thu nhỏ 15 cm. (xem Ogata, Hyojun, và Kogata).
Meiseki: loại suiseki hiếm; một kiệt tác.
Mikaeshi: mặt sau của suiseki.
Mikiri: sự chuyển tiếp từ cao xuống thấp trên suiseki.
Mitsuki: mặt trước của suiseki.
Mochikomi: quá trình tạo sự cằn cỗi  cho đá bằng cách tuới nước phơi nắng và sương mỗi ngày. (xem thêm Yoseki).
Mon-seki: hình ảnh từ kiểu thức bề mặt đá.
Neodani-ishi:  Đá tìm thấy ở Neodani, Nhật.
Ogata suiseki: một loại suiseki lớn hơn 60 cm. (xem Hyojun, Kogata, và Mame).
Jiita : phiến gỗ cứng và mỏng để trưng bày suiseki bên trên.
Sajigawa-ishi: Đá tìm thấy ở Sajigawa, Nhật.
Seigaku-seki: Đá tìm thấy ở Seigaku, Nhật.
Seki: đá.
Setagawa-ishi: Đá tìm thấy ở Setagawa, Nhật.
Shoku: bàn gỗ nhỏ trưng bày tác phẩm nghệ thuật. Bàn được làm bằng gỗ tốt như gỗ tếch hoặc gỗ hồng, thường được đánh bóng và chạm khắc đơn giản, chân thẳng.
Sui : nước.
Suiban: khay cạn bằng gốm, trưng bày suiseki với cát hoặc nước, nếu là cát thì cát phải có màu sắc và kích cỡ sao cho hài hòa với suiseki.
Shoji screens : bình phong.
Sabahana : dạng kiểu thức bề mặt có hình hoa cúc.
Wabi-sabi : là cụm từ gồm hai từ wabi và sabi, được sử dụng trong mỹ thuật để mô tả cái đẹp trong sự bất toàn, dỡ dang (theo Leonard Koren). Wabi-sabi, được phát triển ở thế kỷ XVI dưới sự ảnh hưởng của thiền tông phật giáo. Bệnh u sầu liên quan đến sự lẻ loi, cô độc là một thứ wabi-sabi.
Wabi: có nghĩa là cô đơn, xa xăm, riêng bóng, tĩnh lặng, khiêm tốn. Ví dụ điển hình cho từ wabi là hình ảnh một túp lều tranh bị bỏ hoang của ngư dân trên bờ biển.
Sabi: có nghĩa là cổ xưa,chính chắn, già cỗi, từng trải cũng như cô độc hay u buồn. Ví dụ những lớp nước bóng bị xỉ hay những nét tàn phai theo năm tháng thể hiện trên một món đồ cũ.
Shibui: có nghĩa là yên tĩnh, quí phái, kín đáo, điềm tĩnh, tự chủ hay là thanh lịch. Cái lịch sự khiêm tốn và tĩnh lặng của một buổi uống trà (theo trà đạo) nói lên được ý nghĩa của từ shibui.
Taku: kệ trưng bày suiseki (hoặc bonsai).
Tokonoma: Một kiểu cách trưng bày mà ở đó người ta chọn một góc nhà có chiều sâu 0,75m, rộng 1,5m đến 2,1m; thường để trưng bày suiseki trên kệ shoku cùng các vật thể khác.
Yugen có nghĩa là mơ hồ, thể hiện cái bí ẩn, tính sâu sắc, không ổn định và tính tinh tế như vầng trăng ẩn sau mây một đêm rằm trên biển hay sương sáng sa mờ trên mặt hồ.
Yoseki: Xưa, “cảm giác cũ”, sự cằn cỗi được tạo ra do phong hóa tạo ra từ con người và thiên nhiên nhưng với chủ đích của con người.

Ngoại tuyến

 

#14 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

THẮC MẮC VÀ TRẢ LỜI

Hỏi:
Có nhiều ý kiến về việc có thể chấp nhận hay không phần đáy của viên đá bị cắt. Vài người cho rằng nếu viên đá không phải 100% tự  nhiên, thì nó không phải là suiseki. Quan điểm của các hiệp hội Suiseki trong vấn đề này là gì?

Trả lời:
Dĩ nhiên thật sự  suiseki lý tưởng phải là đá thiên nhiên 100%. Đây là điều kiện tốt nhất, nhưng cũng rất hiếm. Tuy nhiên, nếu phần đáy của viên đá cần thiết thay đổi một chút để hợp với cái đẹp ở trên suiban hay daiza, thì việc cắt bỏ bớt được chấp nhận ở một mức độ nhất định. Một viên đá không nên cắt bỏ hoàn toàn phần mặt phẳng ngay khi chỉ cắt  phần bàn.  Để đánh giá tốt nhất có thể, phần đáy phải được làm cho phù hợp với toàn bộ bề mặt đá và ít nhất cũng phải tự nhiên. Điều này được thực hiện một lần, nó cực kì quan trọng để đánh giá sự thật về đá đã được biến đổi. Trong phần này, việc cắt bỏ được chấp nhận và đã đuợc làm ở Nhật (theo hiệp hội Nippon Suiseki - Tokyo).

Hỏi: Có suiseki thì cắt, có cái không cắt. Vậy, lý do gì để cắt cho suiseki? Tôi nghĩ suiseki phải thuần thiên nhiên chứ?

Trả lời: (câu trả lời này của Ô. Felix G. Rivera)
Qua nhiều năm dồn tâm trí vào nghệ thuật suiseki, đây là một trong số những câu hỏi đầu tiên tôi được hỏi trong triển lãm suiseki của chúng tôi hoặc những thành viên mới gia nhập câu lạc bộ. Cho dù tôi đã trả lời chi tiết trong sách của tôi, nhưng tôi sẽ trả lời lại với những trích dẫn các cuộc đối thoại của các nhân vật có tiếng tăm trong làng suiseki Nhật Bản làm bằng chứng.
“Lý do chúng ta cắt là để chiết lọc phần cân đối “hữu hình” của suiseki từ viên đá gốc hoặc phần “vô hình” của nó. Hình dáng của viên đá rất quan trọng. Viên đá không có hình dáng thì cũng chỉ là một cục đá. Các nhà sưu tập tin rằng cắt đá là quyết định của cá nhân. Tôi không tiếp tục nữa bởi triết lý sống khác nhau. Đôi khi cắt một viên đá là cần thiết để có một tác phẩm suiseki. Tôi cũng đã thấy quá nhiều đá trong triển lãm không ra gì mà chỉ là còn những cục đá vô định hình vì chủ nhân của nó cứ khăng khăng từ chối cắt đá của họ, nghĩ xem, họ đang bị “chủ nghĩa cố hữu” về nghệ thuật lấn áp ! Thật không may, chất lượng của những viên đá trong triển lãm cũng chỉ là những cục đá thôi. Tôi không thích cắt đá, nhưng đôi khi vẫn yêu cầu cắt đá. Một số người đã mất một số tiền lớn về việc không cắt đá. Thật không may là điều đó làm cho nhà sưu tập có những ý tưởng sai lầm. Chỉ bởi vì, một viên đá thiên nhiên không làm cho nó tốt hơn một viên đá cắt. Có nhiều yếu tố quan trọng hơn việc cắt hay không cắt đá như : hình, sắc, khí, chất của nó. Người Nhật  cắt đá nếu họ thấy cần thiết. Vui lòng giữ kín điều đó trong đầu thôi nhé. Quyết định để cắt một viên đá không phải là quyết định dễ dàng. Ta là ai để nói rằng chúng ta biết hơn họ.”


Dưới đây là cuộc đối thoại của các ông:

Akira Mori: Biên tập, Gekkan Aiseki no Tomo, tạp chí suiseki hàng tháng.
Keiji Murata: Chủ tịch, Nippon Juseki-Kyokai, tạp chí suiseki khác.
Hideo Marushimna: Tác giả, cuốn “Lịch sử suiseki tại Nhật”.

Ông Mori hỏi: Cơn sốt chơi suiseki và bonsai ở Mỹ cao đến mức nào?
Ông Marushima trả lời: Ở một chứng mực mà theo tôi quan sát thấy họ chính thống hơn người Nhật chúng ta và họ nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Hầu hết các nhà đứng đầu đều là người Nhật, nhưng cũng có vài người Mỹ đứng đầu rất giỏi đang xúc tiến và cố gắng thành lập kiểu chơi bonsai của người Mỹ. Trong lĩnh vực suiseki, họ vẫn còn mù quáng tôn thờ lý thuyết của Ô. Murata (ông cười) và những từ ngữ của người Nhật chúng ta giống như là “yamagata” và “kuzuya” cũng được sử dụng ở đó. Họ cũng nghiên cứu ý nghĩa của các từ ngữ chuyên môn như từ “shibui.”
Ông Mori hỏi: Họ nghĩ gì về đá tự nhiên và quá trình chế biến đá?
Ông Marushima trả lời: Tại California có một tác giả khá nổi tiếng viết bản tin của Hội Bonsai Mỹ. Tên ông ấy là Felix G.Rivera, tôi được biết ông ấy có bài nói chuyện, nói rằng ông ấy không thể tìm thấy một viên đá hoàn hảo, vì thế, nếu chỉ có một phần của viên đá mà bạn tìm thấy là phù hợp cho bạn thưởng thức thì việc bỏ bớt phần không đẹp cũng tốt thôi. Dĩ nhiên, ông Rivera không giới thiệu bất cứ cách làm nào. Ông Rivera còn nói vẻ đẹp của suiseki nó nằm trong hình dáng gốc của nó.
Ông Mori nói: Vậy ông ấy có nói sẽ để lại phần hữu hình, và xử lý chế biến một chút phần vô hình, có đúng không? Nghe giống như ông ấy đang tiến đến gần những gì Thầy Murata chỉ giáo (ông cười).
Ông Murata trả lời: Không có gì tốt hơn một viên đá nguyên thủy, nhưng tôi nghĩ rằng chế biến mà mang lại kết quả tốt thì cũng nên chấp nhận.
Ông Marushima nói: Ông Rivera hỏi một cách cường điệu rằng, Bonsai sẽ là cái gì khi không có suiseki? Ý ông ấy nói là giống như cà phê sẽ không ngon nếu bạn không biết cách sử dụng thêm kem cho vào đó (ông cười).
Hy vọng các cuộc đối thoại trên cho ta thấy các quy tắc chơi suiseki chỉ do con người đặt ra, chính phủ không can thiệp, do vậy mà sẽ có nhiều ý tưởng, người chơi có thể tuân thủ hoặc không cũng không sao, vấn đề là ở chỗ chơi như thế nào để thỏa mãn được miền say mê của mình và mọi người mà thôi.
Ở Việt Nam, theo quan điểm riêng của cá nhân tôi nhận thấy rằng chúng ta thu nhập thú chơi này là một tất yếu vì đó là thú chơi thanh tao, và vì dân tộc ta là dân tộc ham học hỏi, biết thu dụng những cái hay, cái  đẹp của nước ngoài,  biến hoá, chọn lọc làm thành cái hay cho mình. Tuy nhiên, cũng nên biến cải để sao cho thú vui đó trở thành phổ thông mang tính đại chúng, với số lượng người chơi càng nhiều càng tốt. Vấn đề nào cũng có mặt trái của nó, việc chơi đá một cách cứng nhắc như người Nhật (mang tính thiền định) sẽ giảm bớt tính đại chúng, mà không có tính đại chúng thì làm sao phát triển lên thành một sân chơi lớn, và chỉ trong sân chơi lớn mới có những ngôi sao sáng, sáng thật sự. Từ những ngôi sao này, sẽ tạo thế đứng cho chúng ta trên sân chơi lớn hơn, làm rạng danh đất nước được mệnh danh là rừng vàng biển bạc.

Ngoại tuyến

 

#15 10-02-20

HuuHiep
Administrator
Bài viết: 4349
Gia nhập: 6-08-09
Đến từ: Tp.HCM
Email: hiepsuiseki@suiseki.vn
Địa chỉ: 162 Trần Hưng Đạo, P.NCT, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: 0913916457

Re: THƯỜNG THỨC THƯỞNG NGOẠN ĐÁ CẢNH TỰ NHIÊN

TẠM KẾT

Tôi không phải là một nghệ nhân Suiseki, tôi cũng không phải là một học giả về Suiseki, nhưng chắc chắn tôi đã từng cũng là một trong những người mới chân nước chân ráo bước vào môn nghệ thuật này, và chắc chắn là tôi cũng đã từng bối rối không biết làm cách nào để học và thấu hiểu được nó cho dù khi đó tôi cũng có chút kiến thức về thạch học và khoáng vật học. Đã từng trong tâm trạng như thế, nên đó chính là động lực lớn nhất giúp tôi tiến hành sưu tầm tài liệu, trao đổi, học hỏi các bạn hữu gần xa để hệ thống, đúc kết thành tập tài liệu nhỏ: “Thường thức về nghệ thuật chơi đá cảnh Suiseki-Biseki”.

Tôi không biết có nên dừng lại ở đây không? Nhưng quả thật là có viết bao nhiêu cũng vẫn sẽ thiếu, nhưng có viết thế nào cũng có thể gọi là tạm đủ. Vậy mà, các tài liệu trên tay tôi, ôi ! sao nó cứ dài thăm thẳm, ý nghĩ trong đầu luôn thôi thúc tôi cứ hãy viết nữa đi, nhưng liệu có ích cho độc giả không nếu chỉ đơn thuần là những mớ lý thuyết suông, chi bằng tôi cứ viết đến đây và chờ nhận được những thông tin góp ý phản hồi từ quý vị độc giả từ đó sẽ biết tài liệu này còn khiếm khuyết chỗ nào mà tiếp tục bổ túc thêm.

Không có gì vui bằng được đón nhận những ý kiến đóng góp chân thành và quý báu từ quý độc giả, từ bạn hữu gần xa nhằm bổ túc cho những đúc kết nhỏ nhoi này thành một sổ tay nhỏ hữu ích dành cho những người mới bước vào môn nghệ thuật này .

Ngoại tuyến

 

Board footer

Powered by PunBB
© Copyright 2002–2008 PunBB